Home Bài nghiên cứu Lịch sử
Thứ ba, 24-11-2020   
     
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA NHO GIÁO

 

PHẠM NGỌC HƯỜNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

 

Cũng như các vương triều khác, nhà Nguyễn ngay sau khi thành lập liền lo việc soạn thảo luật lệ. Cụ thể là vua Gia Long đã sai Tiền quân Bắc Thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành biên soạn bộ luật Hoàng Việt luật lệ (hay còn gọi là Luật Gia Long). Công việc biên soạn luật được tiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Gia Long. Bộ Luật bao gồm 398 điều, chia thành 22 quyển. Các điều luật được phân loại và sắp xếp theo 6 lĩnh vực, tương ứng với nhiệm vụ của 6 bộ, bao gồm các nội dung chính như: Lại luật (quy định về tổ chức nhà nước và hệ thống quan lại); Hình luật (quy định về các tội danh và hình phạt); Hộ luật (quy định về quản lý dân cư và đất đai); Lễ luật (quy định về ngoại giao và nghi lễ cung đình); Binh luật (quy định về tổ chức quân đội và quốc phòng); Công luật (quy định về xây dựng, bảo vệ đê điều, lăng tẩm). Bộ luật được xây dựng trên cơ sở tham khảo đối chiếu bộ Luật Hồng ĐứcĐại Thanh luật lệ của Trung Quốc, tuy nhiên có căn cứ vào tình hình trong nước và dân tộc Việt Nam để chọn lọc và biên soạn. Vì vậy nó mang bản sắc riêng và chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam.
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi tìm hiểu những giá trị tích cực của Nho giáo trong Luật Gia Long.
1. Luật Gia Long là công cụ quan trọng để xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền
Có thể thấy pháp luật thời kỳ nào cũng đề cập đến vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia, mà việc bảo vệ chủ quyền chính là xuất phát từ yêu cầu bảo vệ chế độ vương quyền của Nho giáo. Như chúng ta đã biết, hạt nhân tư tưởng chính trị Nho gia là chủ trương lễ trị, đề cao đức trị nhân chính, nhất nhất đều tuân thủ theo mọi chuẩn tắc thì mới hợp với lễ. Vì thế chế định luật lệ các vương triều đều lấy nội dung tư tưởng từ Nho giáo. Luật Gia Long cũng đã lấy tư tưởng pháp luật Nho giáo đó làm căn cứ lý luận dùng để chỉ đạo phương pháp ứng dụng và nguyên tắc lập pháp của điều luật. Có thể nói Luật Gia Long là sự thể hiện tập trung nhất tư tưởng Nho giáo trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
Vua Gia Long đã vận dụng tư tưởng lễ trị của Nho giáo trong việc chế định luật lệ. Trong lời tựa của Hoàng Việt luật lệ vua Gia Long đã viết: "Trẫm nghĩ: Thánh nhân cai trị thiên hạ đều dùng luật pháp để xử tội, dùng đạo đức để giáo hóa họ". Thật vậy, sống trong xã hội, con người với những ham muốn vô bờ, nếu không có luật pháp để ngăn ngừa thì không có cách gì để dẫn dắt người ta vào đường giáo hóa đạo đức.
Luật Gia Long đã thể chế quan điểm chính danh của Nho giáo nhằm buộc quan lại thực hiện theo đúng chức năng chỉ là phụ tá và thực thi quyền lực của nhà vua theo đúng cương vị của mình. Danh luật lệ, quyển 2, Điều 6: Quan chức hữu phạm ghi: “Nếu quan lại phạm tội thì không được xử tội riêng, mà phải trình bày và xin ý kiến của nhà vua. Nếu được nhà vua đồng ý mới được xét hỏi và theo luật luận tội, rồi tâu lên cho vua biết và chờ quyết định của nhà vua”. Điều luật còn quy định quan lại có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với nhà vua. Điều 12 mục Hình luật, Điều 1 Mưu phản đại nghịch ghi rõ: “Bầy tôi mà dám âm mưu chống lại nhà vua, phá hủy tông miếu, làm nguy xã tắc thì đó là tội phản nghịch, tòng mưu hay thủ mưu đều xử tử bằng hình phạt lăng trì (xử chém)”.
Ngoài ra trong các điều luật về nghi lễ như trong quyển 4 mục Lại luật, Điều 10 Vô cớ bất triều tham công tòa ghi rằng: “Nếu vô cớ không đến triều tham dự công việc, không đến sở làm việc” thì đều bị chịu hình phạt, đó là hành vi bất kính với nhà vua, với bề trên nên đều bị trừng phạt. Những hành vi tiếm lễ xâm hại đến đặc quyền chỉ thuộc về nhà vua cũng nghiêm ngặt trừng trị. Quyển 9 mục Lễ luật, phần Nghi chế Điều 1 Hiệp hòa ngự dược ghi rằng: “Nếu ngự y pha chế thuốc cho nhà vua mà không theo toa, ghi bên ngoài lại sai lệch thì bị phạt 100 trượng… Thuốc dâng lên nhà vua dùng, phải kính cẩn pha chế theo toa gốc, không để lẫn lộn”, “Nấu đồ ăn cho vua mà phạm đồ ăn cấm kỵ thì đầu bếp bị phạt 100 trượng”, “Đồ dùng, xe cộ vua đi, người coi sóc cất giữ tu sửa mà không đúng phép thì bị phạt 60 trượng”.
Tam cương ngũ thường cũng thể hiện rõ nét trong các điều luật phong kiến. Đó là những nguyên tắc đạo đức cơ bản của xã hội phong kiến, mà việc duy trì bảo vệ quân quyền lại chính là hạt nhân của nó. Trong điều 2 quyển 1 phần Danh lệ nói về thập ác, bao gồm các tội: mưu phản, mưu đại nghịch, phản bội, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa nội loạn. Đây là 10 tội ác không thể tha được vì hành vi vi phạm đến lý luận cơ bản của Nho gia, về kỷ cương quân thần, cha con, vợ chồng, uy hiếp đến sự ổn định của xã hội phong kiến và việc củng cố chế độ chuyên chế quân chủ.
Mục tiêu cuối cùng của các điều luật là nhằm làm tăng thêm quyền lực, bảo vệ nhà vua và triều đình. Vì thế ngay cả chữ hiếu cũng phải lùi một bước trong trường hợp có sự xung đột giữa trung và hiếu. Có thể nói pháp luật thời phong kiến là ý muốn của nhà vua, là công cụ cơ bản để bảo vệ quyền lợi nhà vua, bảo vệ quyền lợi của vương triều.
2. Sự kết hợp giữa lễhình trong Luật Gia Long
Nho giáo chủ trương kết hợp giữa lễhình, cùng bổ trợ cho nhau nhằm hữu hiệu hóa việc duy trì bảo vệ trị an lâu dài cho quốc gia và sự ổn định cho xã hội. Lễ nghiêng về việc đề phòng phạm tội, dẫn dắt dân hướng đến điều thiện. Khổng Tử từng nói: "Lễ là phạm trù của văn hóa, là cái có sau do bản tính của con người quy định". Vì vậy Lễ trước hết được hiểu là những nghi lễ, những quy phạm đạo đức quy định quan hệ giữa con người với con người theo trật tự danh vị xã hội thời nhà Chu. Lễ được xem là lẽ phải, là bổn phận mà mọi người phải có nghĩa vụ tuân theo. Việc hiếu thảo với cha mẹ, hòa thuận anh em, tín nghĩa bạn bè… cao hơn một bậc nữa đó là kỷ cương phép nước, là trật tự xã hội quy định hành vi của con người. Nhờ có Lễ mà mỗi người có cơ sở bền vững để tiết chế nhân tình, thực hiện nhân nghĩa ở đời… Nhờ có Lễ, con người có thể tự mình nuôi dưỡng tính tình thành tập quán, thói quen đạo đức truyền thống. Trong Luật Gia Long việc đòi phân chia tài sản khi ra ở riêng là một trong những tội bất hiếu: “Phàm ông bà cha mẹ còn sống, cháu con giữ lễ thì không được có của riêng. Nếu đòi phân chia tài sản ra ở riêng thì đều là việc làm bất hiếu cả”. Hay khi ông bà cha mẹ còn sống, con cháu không được vì tài sản mà tỏ ra thiếu lễ độ, cho dù ông bà cha mẹ không còn nữa thì anh em khi ở cùng nhau cũng phải thể hiện lễ độ hơn với các bậc trưởng bối. Đưa ra điều luật như thế chính là cách dạy người ta chữ hiếu. Những quy định đó của Luật Gia Long đã thể hiện tư tưởng tôn trọng người già, thương xót người già, anh em yêu thương nhau… nó thể hiện rõ được việc đề xướng đạo hiếu trong Nho gia.
Hình lại nghiêng về việc trừng phạt các tội ác để ngăn cấm người ta làm điều ác. Các hình phạt được đưa ra nhằm bảo vệ lễ giáo phong kiến. Trong gia đình những hành vi vi phạm đạo lý của Nho giáo cũng quy định phải chịu hình phạt theo quy định về hình phạt Ngũ hình ở Điều 1. Mức độ quy định của hình phạt từ nhẹ đến nặng: si, trượng, đồ, lưu, tử, để cho giáo lý của đạo Nho được mọi người tuân theo một cách triệt để.
Bản chất của lễ và hình đều thể hiện lợi ích và ý chí của giai cấp thống trị. Lễ hình cùng bổ trợ cho nhau, lấy lễ làm cái chủ đạo, lấy hình làm khuôn mẫu, lấy lễ để làm thay đổi tư tưởng và quan điểm của người dân, khiến dân hiểu được về lễ; dùng hình để răn giới tà ác, khiến cho dân ý thức được uy nghi của pháp luật; dùng lễ để thương yêu chăm sóc dân chúng, thúc đẩy thi hành pháp luật, đồng thời dùng hình để quy phạm đạo đức, khiến cho người dân xây dựng lên được đạo đức quan chân chính.
Việc kết hợp chặt chẽ giữa lễ và hình trong các điều luật đã bảo vệ được giá trị truyền thống của dân tộc như lòng hiếu thảo, tôn kính ông bà, cha mẹ của con cháu, sự hòa thuận giữa vợ và chồng, sự kính nhường hòa thuận giữa anh em, truyền thống tôn sư trọng đạo… Đồng thời nó có tác dụng rất lớn trong việc điều chỉnh hành vi trong gia đình, khiến con người có ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm với bản thân và làm tròn bổn phận ở từng vị trí cụ thể với gia đình mình. Như vậy luật là nền tảng cho sự giáo dục đạo đức trong gia đình, trong xã hội, duy trì những chuẩn mực và giá trị đạo đức truyền thống.
3. Giá trị đạo đức Nho giáo, đặc biệt là đạo đức trong gia đình trong Luật Gia Long
Trong các nước Đông Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng, vấn đề luân lý và đạo đức truyền thống luôn hướng tới việc xây dựng gia đình bền vững, lâu dài. Luận ngữ có câu: “Con người vừa mới sinh ra đã phải là người con có hiếu và thuận hòa, cả cuộc đời đều hiến thân cho gia đình, lấy công việc xây dựng gia đình làm hạnh phúc cho chính bản thân mình. Hạnh phúc và danh dự cá nhân được gắn chặt với hạnh phúc và danh dự gia đình”. Luật Gia Long cũng chủ trương dùng luật để hướng các quan hệ gia đình theo luân lý Nho giáo như vậy, nhằm tạo ra một quyền lực gia đình mang đậm tính Nho giáo. Trong thập ác thì có đến 4 tội thuộc về phạm vi chống lại luân lý gia đình: bất hiếu, ác nghịch, bất kính, bất mục. Thông qua công cụ là luân lý gia đình đã đưa vào trong đầu người dân những nhận thức về “hiếu - lễ - đễ - nghĩa”, những ý niệm vừa là luân lý đạo đức, vừa là tư tưởng pháp lý gắn liền với thể chế chính trị mà họ đang sống để định hướng các hành vi ứng xử và lối sống.
Luật Gia Long cho phép người trong nhà được che chở, giấu tội cho nhau, nghiêm cấm tố cáo ông bà cha mẹ - đó là truyền thống đạo hiếu của người Việt từ bao đời nay được thể chế hóa vào luật. Xét bề ngoài chế độ bao che giấu tội này là trái với quy định, nhưng bản chất sâu xa lại phản ánh một cách sâu sắc tư tưởng đạo đức luân lý Nho gia. Trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam ngay từ thuở lọt lòng đã được giáo dục và ứng xử theo nguyên tắc này, đó là phận làm con phải kính trọng, hiếu thuận với ông bà cha mẹ, biết kính trên nhường dưới. Người Việt Nam cho rằng hiếu là nhân cách của con người, là gốc của nhân luân, là giá trị xã hội cao quý. Trong quyển 1 Danh luật lệ Điều 31 Thân thuộc tương vi dung ẩn (họ hàng thân thuộc che giấu tội cho nhau) viết rằng: “Trường hợp người thân thuộc bậc đại công trở lên, mà tang phục rất trọng, ông bà ngoại, cha mẹ vợ của cháu, rể, vợ chồng của cháu, anh em của cháu, vợ của anh em mang ơn lớn, nếu phạm tội đều cho phép giấu tội cho nhau”. Hay trong quyển 2 phần Danh lệ, Điều 17: “Nếu phạm tội đi tù, lưu đày, mà ông bà cha mẹ già không có người chăm sóc nuôi dưỡng thì xử 100 trượng, tội còn lại cho nhận giá chuộc, cho ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ”. Điều này thể hiện rất rõ ưu thế của hiếu đạo, ngay cả khi giữa hiếu đạo và pháp luật có xung đột nhau thì hiếu đạo vẫn được coi là cái gốc để điều chỉnh hành vi của con người. Nho giáo đề cao đạo hiếu và những lễ nghĩa liên quan, làm cho quan hệ máu mủ thân tình cùng với gia đình chuẩn mực được khẳng định một cách đầy đủ. Hiếu đạo chính là cảm giác được bảo vệ mang tính tự nhiên của con người đối với họ hàng thân thuộc. Hiếu đạo là mấu chốt quan trọng duy trì các mối quan hệ gia đình gắn bó. Điều đó đã bảo vệ được chế độ tông pháp, hạn chế tối đa việc phá vỡ trật tự gia đình của Nho giáo, vì thế mà lưu giữ được những giá trị đạo đức trong gia đình, cũng là những giá trị đạo đức của Nho giáo.
4. Giá trị nhân đạo trong luật Gia Long
Tư tưởng nhân đạo trong luật Gia Long thể hiện rõ nhất ở những quy định mang tính nhân văn như: Chính sách khoan hồng đối với người phạm tội, bảo vệ người già và trẻ em; giúp đỡ những người tàn tật và cô quả, những người có hoàn cảnh khó khăn và những người phạm tội tuy chưa bị phát giác đã đi tự thú.
Một trong những quan điểm chủ đạo của người Việt Nam là trọng già yêu trẻ. Vì thế trong luật Gia Long cũng áp dụng trong một số điều luật cho hai đối tượng này. Như trong quyển 3 mục Danh lệ, Điều 21 Lão thiếu phế tật thu phục (nhận giá chuộc đối với người già, trẻ em, người tàn phế): “Nếu người già 70 tuổi trở lên, trẻ em 15 tuổi trở xuống và người tàn phế (hư mắt, gãy chân) phạm tội lưu trở xuống cho nhận giá chuộc tội… Người già 80 tuổi trở lên, trẻ em 10 tuổi trở xuống bệnh nặng, phạm tội giết người thì nghị xử tâu lên vua chờ quyết định của vua… Người già 90 tuổi trở lên, trẻ em 7 tuổi trở xuống dù có phạm tội chết cũng không phải chịu hình phạt nào…”. Điều 22 thì viết: “Lúc phạm tội mà chưa già, chưa tàn tật, nhưng khi tội bị phát giác thì xử theo tội già và tàn tật…”. Quyển 19, mục Hình luật, Điều 10 quy định: “Những người trên 70 tuổi (xót thương người già), 15 tuổi trở xuống (vì lòng yêu mến trẻ), tàn phế (thương kẻ tàn phế) nếu có phạm tội thì quan ti không được dùng hình phạt tra khảo, chỉ căn cứ vào các chứng cứ mà định tội”.
Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh nữ, nhưng trong Luật Gia Long vẫn có một số điều quy định chú ý phần nào đến quyền lợi và thân phận người phụ nữ. Trong thời phong kiến địa vị của người phụ nữ được đánh giá rất thấp, tuy nhiên ở một mức độ nào đó, nhân phẩm người phụ nữ vẫn được đề cao và tôn trọng. Pháp luật nghiêm cấm và có những hình phạt đối với những hành vi lừa gạt để kết hôn. Quyển 7 Hộ luật hôn nhân, Điều 12 Cưỡng chiếm lương gia thê nữ viết rằng: “Cưỡng đoạt vợ con gái nhà lành bán cho người khác làm thê thiếp, hay đem dâng cho vương phủ, cho nhà huân công hào thích thì đều bị xử giam chờ thắt cổ”. Hay trong quyển 7 mục Hộ luật hôn nhân, Điều 15 Xuất thê viết rằng: “Nếu chồng bỏ vợ đi biệt 3 năm, trong thời gian ấy không báo quan biết, rồi bỏ đi thì phạt 80 trượng, tự ý cải giá thì phạt 100 trượng”. Như vậy người đàn ông mới có ý thức trách nhiệm với người phụ nữ hơn, quan tâm đến gia đình mình hơn.
Người Việt Nam luôn đề cao và bảo vệ giá trị đạo đức tốt đẹp của con người, như lòng nhân ái, sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, tình nghĩa vợ chồng… Những tiêu chuẩn đạo đức đó đều được ghi nhận và đề cao trong Luật Gia Long. Tất cả những ai phạm tội thập ác đều phải chịu hình phạt nặng nhất. Đề cao lòng hiếu thảo, quyển 9 mục Lễ luật, Điều 17 Khí thân chi nhiệm quy định: “Tuổi già có bệnh ắt đợi cháu con về phụng dưỡng để sau yên phần. Nếu con đối với cha mẹ, cháu đối với ông bà già trên 80 tuổi mà lại bị bệnh nặng, trong nhà không có ai thay mình chăm sóc, mà không chịu về hầu hạ, tham phú quý vinh hoa, lợi lộc, bỏ nhiệm vụ hầu cha mẹ, tội này khép vào tội bỏ nhiệm vụ chăm sóc cha mẹ. Hoặc có người ngược lại cha mẹ không bị bệnh tật mà nói dối rằng cha mẹ mình bệnh mong có người về phụng dưỡng. Như vậy một là bỏ rơi cha mẹ, là bất nhân, mặt khác là kẻ bất nghĩa với vua, nên phạt 80 trượng”. Tình thầy trò cũng được đề cao, thầy giáo là người truyền dạy đạo lý làm người, tình nghĩa sâu nặng, quyển 15 Hình luật, Điều 10 Ẩu thụ nghiệp sư quy định: “Nếu đánh thầy dạy học của mình thì tăng thêm hai bậc tội so với đánh người thường. Đánh thầy đến tàn tật thì xử 100 trượng lưu đày ba ngàn dặm…”.
Nghiên cứu tìm hiểu về luật cổ Việt Nam, chúng ta có quyền tự hào về một di sản pháp luật mà thế hệ đi trước đã dành nhiều công sức và trí tuệ để xây dựng và ban hành. Luật Gia Long có thể xem là hoàn chỉnh và quan trọng nhất, là tập đại thành của toàn bộ nền pháp luật thời Nguyễn. Bộ Luật này với các chương mục, các điều luật lệ rõ ràng đã phản ánh trình độ lập pháp trong giai đoạn này. Bộ Luật Gia Long là di sản quý giá của dân tộc không chỉ trong lĩnh vực luật pháp mà còn trong nhiều lĩnh vực khác.
Tài liệu tham khảo
1. Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam (từ thế kỉ XV đến XVIII), Tập 1, Nguyễn Ngọc Nhuận chủ biên, Nxb. KHXH, H. 2006.
2. Vũ Văn Mẫu: Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử diễn giảng, Nxb. Sài Gòn, 1975.
3. Nguyễn Văn Thành - Vũ Trinh - Trần Hựu: Hoàng Việt luật lệ. Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Văn Tài dịch. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 1994.
4. Nguyễn Q. Thắng: Lược khảo Hoàng Việt luật lệ, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2002.
5. Tìm hiểu tư tưởng của Lê Thánh Tông về pháp luật, Trương Vĩnh Khang, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3/2007.
6. Luận ngữ, Nxb. Trí Đức tòng thơ, Sài Gòn, 1950.
7. Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2001.
8. Pháp chế sử Việt Nam, Vũ Quốc Thông, Tủ sách ĐH Sài Gòn, 1973.
9. Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, Insunzu Yu, Nxb. KHXH, H. 1994.
10. 何成軒: 儒家思想對皇越律例的影響, 2007年在越南“國際儒教研討會” 論文./.

 

(Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr. 52-57)

Nguồn: http://www.hannom.org.vn/default.asp?CatID=783

 
MỘT BẢN PHỔ CHÍ NÓI VỀ QUAN HỆ VIỆT - CHĂM

MỘT BẢN PHỔ CHÍ NÓI VỀ QUAN HỆ VIỆT - CHĂM

Đọc thêm...
 
Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa

 

Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Ðông được đề cập trong tác phẩm Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên    我國南海諸島史料滙编
Hồ Bạch Thảo
Đọc thêm...
 
TRIỀU NGUYỄN VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO

Đọc thêm...
 
PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

VỊ TRÍ QUAN TRỌNG CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Đọc thêm...
 
LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

Đọc thêm...
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 6 của 15
 
Địa chỉ: Tầng 3-4 Nhà D - 336 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội
Điện thoại: 04. 3 5589477 / Email:baotangnhanhoc@yahoo.com