Home
Thứ hai, 23-10-2017   
     
Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang Sơ kỳ Lịch sử ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ
Tên đề tài: Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang Sơ kỳ Lịch sử ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam
Mã số: QGTĐ.06.07
Chủ trì: PGS.TS. Lâm Thị Mỹ Dung
Cơ quan quản lý: Đại học Quốc gia Hà Nội
Cơ quan thực hiện: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Cơ quan phối hợp nghiên cứu: Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Thời hạn: Từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 5 năm 2008
 
1. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các tư liệu khảo cổ học kết hợp với tư liệu thư tịch, dân tộc học... để diễn giải nguyên nhân, động lực và nội dung quá trình chuyển biến từ sơ sử sang lịch sử và hình thành nhà nước sớm ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam.
Thu thập, tổng hợp những công trình nghiên cứu, cách thức tiếp cận và kiến giải, tranh luận (lý luận và thực tế) về thời quá độ sang lịch sử của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chú trọng những công trình nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á.
Tổng hợp và hệ thống hoá một số nguồn tư liệu thành văn (sử ký, bi ký). Nghiên cứu so sánh các nguồn tư liệu vật thật và thành văn liên quan trực tiếp đến những vấn đề đặt ra trong đề tài.
Thu thập, tổng hợp và hệ thống hoá các tài liệu khảo cổ học đã và chưa công bố thuộc thời gian nghiên cứu của đề tài, không chỉ tư liệu lưu giữ tại các bảo tàng mà cả tư liệu /hiện vật của một số sưu tập tư nhân. Nghiên cứu so sánh di tích di vật của hai thời kỳ để làm rõ nội dung, tính chất, nguyên nhân và động lực của những chuyển biến trong các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hoá từ Sơ sử sang Lịch sử sớm .
Hệ thống hoá và xác định đặc trưng các địa điểm khảo cổ giai đoạn từ sơ sử (văn hoá Sa Huỳnh) đến sơ kỳ lịch sử để xác định mối quan hệ của các loại hình di tích trên bình diện thời gian và không gian, bước đầu phác thảo cấu trúc xã hội và văn hoá của các nhóm cư dân.
2. Nội dung chính
Nội dung của đề tài được trình bày trong 4 chương viết.
Chương 1 đề cập những nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về quá trình chuyển biến văn hoá ở miền Trung Việt Nam từ thời sơ sử sang lịch sử sớm, đặc biệt là những nghiên cứu về mức độ tiến hoá của tính phức hợp xã hội và sự hình thành và phát triển của nhà nước ở Đông Nam Á. Mô hình lý thuyết chung áp dụng trên thế giới Băng/nhóm - Bộ lạc - Lãnh địa - Nhà nước có thể dùng trong nghiên cứu về Đông Nam Á nói chung và miền Trung Việt Nam nói riêng nhưng phải có những điều chỉnh về cả nội dung lẫn tiêu chí. Những yếu tố tác động và nguyên nhân động lực hình thành những chính thể ở Đông Nam Á cũng rất đa dạng và thường được chia thành hai nhóm chính là nội sinh và ngoại sinh, trong khi những nghiên cứu sớm thường chú ý đến các động lực ngoại sinh bất kể là kinh tế, chính trị hay tôn giáo dưới khái niệm Ấn Độ hoá, Trung Hoa hoá, Hindu hoá... thì những nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của nền tảng kinh tế - chính trị - văn hoá của các xã hội bản địa trong quá trình hình thành nhà nước ở các mức độ khác nhau, chính nhu cầu phát triển nội tại là nguyên nhân chính để các xã hội Đông Nam Á lựa chọn những mô hình chính trị tương thích phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của mình.
Từ cách tiếp cận lý thuyết chung này ta có thể thấy quá trình chuyển biến từ Sa Huỳnh sang Lâm Ấp và những chính thể tương đương Lâm Ấp, quá trình hội nhập và kết tinh những tiểu quốc vào trong một dạng chính thể liên kết chặt chẽ hơn và thống nhất hơn như vương quốc Chămpa (Nagara Chămpa) ở miền Trung Việt Nam có sự tác động đáng kể của điều kiện môi trường sinh thái, kinh tế (như yếu tố biển, vị thế trung điểm của miền Trung Việt Nam trên tuyến đường giao thương biến quốc tế và những luồng di chuyển của dân cư (đặc biệt là của cư dân ngữ hệ Nam Đảo) và điều kiện chính trị, giao lưu, tiếp biến văn hoá (mối quan hệ với Trung Quốc, với miền Bắc Việt Nam, với Đông Nam Á hải đảo và với Nam Á)...
Chương 2 tập trung vào việc trình bày những thành tựu văn hoá vật chất và tinh thần của các nhóm cư dân thời Sơ sử. Thế kỷ 5 TCN đến thế kỷ 1 SCN là thời gian tồn tại và phát triển của văn hoá Sa Huỳnh. Đây là nền văn hoá có đặc trưng chính là táng thức dùng chum vò gốm lớn làm quan tài mai táng chôn thẳng đứng. Táng tục khá đa dạng như hoả táng, hung táng và cải táng. Mộ huyệt đất đôi khi cũng gặp trong những di tích của văn hoá Sa Huỳnh nhưng không phổ biến. Qua phân tích và so sánh di tích, di vật, chúng tôi xác định hai địa bàn Bắc, Nam ứng với hai truyền thống I và II cũng như ba giai đoạn phát triển từ sớm đến muộn của văn hoá Sa Huỳnh.
Từ những phân tích và diễn giải tư liệu mộ táng như kích cỡ khu mộ, chất và lượng đồ tuỳ táng những vấn đề cấu trúc xã hội kiểu lãnh địa, mối quan hệ văn hoá trong ngoài, động lực nội sinh và ngoại sinh tác động đến những chuyển biến chính trị - kinh tế - xã hội cũng được chúng tôi phân tích kỹ lưỡng và thấu đáo. Kết quả của những diễn giải này giúp làm sáng tỏ quá trình chuyển biến từ lãnh địa sang nhà nước sớm dạng mandala ở miền Trung Việt Nam những thế kỷ đầu Công nguyên trong bối cảnh khu vực. 
Trong chương 3 những di tích, di vật có niên đại giai đoạn sau văn hoá Sa Huỳnh được phân tích từ các góc độ khác nhau. Kết quả cho thấy có những thay đổi đáng kể trong di vật và di tích ứng với sự hình thành những cấu trúc xã hội mới với những chức năng đa dạng hơn so với giai đoạn Sa Huỳnh.
Những lãnh địa thời Sa Huỳnh về cơ bản ứng với những loại hình văn hoá địa phương Bắc Sa Huỳnh, Nam Sa Huỳnh và có thể có cả vùng hay loại hình Trung Sa Huỳnh (Bình Định và một phần Phú Yên hiện nay). Ngoài ra có thể còn có một số lãnh địa nhỏ hơn ở những vùng núi cận kề trong không gian văn hoá Sa Huỳnh. Từ sau Công nguyên những lãnh địa này đã biến đổi thành nhà nước sơ khai dạng mandala (hay mường lớn, bản...).
Mặc dù sử cũ chỉ ghi chép về Lâm Ấp (một cách tương đối rõ) xong điều này không chứng tỏ chỉ có một chính thể là Lâm Ấp là đã từng tồn tại. Những ghi chép trong Thuỷ Kinh Chú về các nước như Tây Đồ, Khuất Đô Càn, Từ Lang... cho thấy sự hiện diện của những chính thể tương đương Lâm Ấp. Trong quá trình tồn tại của những nước này giai đoạn từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 5,6 Lâm Ấp nổi lên như một thực thể hùng mạnh và dần liên hợp những nhà nước nhỏ này trong một liên minh lớn hơn cả về không gian lẫn mức độ phức hợp xã hội.
Từ Lâm Ấp và những chính thể tương đương Lâm Ấp đến vương quốc Chămpa là một quá trình diễn biến văn hoá liên tục và dần dần. Không phải là sự thay thế theo kiểu cơ học mà là sự chuyển biến từ lượng thành chất bắt nguồn từ luồng văn hoá bản địa dưới tác động của nhiều yếu tố ngoại sinh và đặc biệt là vai trò quan trọng của sự tiếp xúc, trao đổi và ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ và Đông Nam Á.
Trong chương này chúng tôi đã đề cập tới hai nhóm nguyên nhân và động lực đóng vai trò vừa là nền tảng cơ sở vừa là yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước. Đó là nhóm yếu tố nội sinh và nhóm yếu tố ngoại sinh. Ở Đông Nam Á trong nhóm yếu tố ngoại sinh, buôn bán đường xa cùng với tiếp xúc và trao đổi văn hoá với thế giới bên ngoài có vai trò quan trọng. Đối với trường hợp miền Trung Việt Nam bên cạnh những yếu tố chung đó thì sự lệ thuộc chính trị vào nhà Đông Hán Trung Quốc ở những thế kỷ đầu Công nguyên đã làm cho quy trình và bản chất hình thành nhà nước sớm ở đây có những đặc điểm vừa chung lại vừa riêng.
Chương 4 khái quát những chuyển biến giai đoạn chuyển tiếp từ Sơ sử sang Lịch sử sớm. Những chuyển biến diễn ra trong nhiều lĩnh vực của thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở từ chính trị, kinh tế, cấu trúc xã hội, tổ chức không gian sống đến đời sống văn hoá vật chất, tinh thần.
Kết hợp nghiên cứu so sánh tư liệu dân tộc học, thư tịch và khảo cổ không chỉ riêng của miền Trung Việt Nam mà của cả Đông Nam Á chúng tôi cho rằng quá trình hình thành nhà nước sớm ở miền Trung Việt Nam có một số đặc điểm. Đó là:
i.                            Chịu tác động của sự phát triển chung của khu vực, sự dịch chuyển của các dòng dân cư, văn hoá và đặc biệt là sự truyền bá của những học thuyết chính trị, những tôn giáo mới từ đầu Công nguyên;
ii.                           Sự hiện diện (trực tiếp và gián tiếp) của chính quyền nhà Hán ở vùng đất quận Nhật Nam từ cuối thế kỷ I TCN và đặc biệt là thời kỳ 1,2 SCN.
 Như vậy những nhà nước sớm nhất ở miền Trung Việt Nam dù trên cơ sở kế thừa cơ cấu lãnh địa Sa Huỳnh bản địa nhưng đã được hình thành do kết quả tương tác với những lực lượng chính trị từ bên ngoài, trước hết là từ Đông Hán và sau đó với Nam Á, Đông Nam Á...
 Nhà nước Lâm Ấp (và có lẽ cả những chính thể khác tương đương, tương đồng Lâm Ấp) hiện diện trên dải đất miền Trung được hình thành từ một chuỗi các tiếp biến chính trị (đối đầu, phản kháng, học hỏi, thâu nhận) bản địa - ngoại sinh. Ghi chép trong thư tịch cổ, tài liệu khảo cổ từ những địa điểm Lịch sử sớm ở các vùng lưu vực sông Thu Bồn, Trà Khúc, Đà Rằng đều xác nhận sự hiện diện của những trung tâm hành chính - chính trị - kinh tế được cấu trúc ban đầu phỏng theo mô hình Trung Hoa, mỗi trung tâm này ứng với một tiểu quốc dạng mandala. Từ sau khi hình thành những tiểu quốc mandala này dần hướng về quỹ đạo văn hoá Nam Á và Đông Nam Á.          
Nếu xét từ phương diện lịch sử, có vẻ như có một sự thay đổi khá đột ngột trong cấu trúc chính trị của những xã hội giữa thời Tiền, Sơ sử và Lịch sử, với sự hình thành của những chính thể dạng nhà nước. Tuy vậy, từ góc độ khảo cổ, chúng ta có thể thấy có một sự tiếp nối đáng kể trong di vật giữa hai thời kỳ này, hay nói bằng ngôn từ khác sự phát triển kinh tế-xã hội thời sơ sử là cơ sở nền tảng cho sự hình thành nhà nước ở giai đoạn muộn hơn.
 Tóm lại đề tài đã đạt được những mục tiêu nghiên cứu đặt ra ban đầu cả về lý thuyết, cả về thực địa.
 
3. Những kết quả đạt được
3.1. Kết quả KHCN
01 báo cáo kết quả của đề tài gồm 344 trang viết;
01 phụ lục dày 172 trang gồm bản đồ, bản ảnh, bản vẽ, bản dập, bảng thống kê và phụ lục;
01 tập báo cáo Hội thảo của ĐTNC gồm 08 bài viết của các nhà nghiên cứu gồm các bài:
1. TS. Yamagata Mariko(Đại học Waseda, Nhật Bản) Văn hoá Sa Huỳnh và giả thuyết di dân.
2. TS. Vũ Quốc Hiền (Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội) Văn hoá Xóm Cồn và các con đường hình thành văn hoá Sa Huỳnh.
3. TS. Nguyễn Kim Dung (Viện Khảo cổ học Việt Nam, Hà Nội) Di chỉ Gò Cấm và Trà Kiệu trong quá trình chuyển biến sơ sử - sơ kỳ lịch sử ở miền Trung Việt Nam.
4. TS. Nguyễn Thị Hậu (Viện nghiên cứu xã hội TP. Hồ Chí Minh) Khái quát về các di tích khảo cổ học giai đoạn “Tiền Óc Eo” ở Nam Bộ.
5. PGS.TS. Nguyễn Văn Kim (Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội) Dấu ấn cổ sơ của các xã hội Đông Nam Á.
6. PGS.TS. Vũ Văn Quân (Trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội) Nhà Hán và chính sách của nhà Hán đối với vùng biên viễn.  
7. TS. Phạm Thị Ninh (Viện Khảo cổ học Việt Nam, Hà Nội) Các tiền đề tự nhiên – xã hội thúc đẩy xã hội Sa Huỳnh phát triển những thế kỷ trước và sau Công nguyên
8. TS. Lê Thị Liên (Viện Khảo cổ học Việt Nam, Hà Nội) Tín ngưỡng thờ Siva trong bối cảnh các di chỉ khảo cổ học sớm ở Nam Việt Nam
06 chuyên đề nghiên cứu
1. TS. Nguyễn Thị Hậu. Về hệ thống di tích khảo cổ học ở huyện Cần giờ TP. Hồ Chí Minh
2. TS. Vũ Quốc Hiền. Vị trí của văn hoá Xóm Cồn trong thời Sơ sử Nam Trung Bộ.
3. NNC. Trần Kỳ Phương Sơ khảo về nền văn minh và nghệ thuật kiến trúc của vương quốc Chămpa
4. TS. Nguyễn Kim Dung Vị trí của Gò Cấm trong quá trình chuyển biến văn hoá Sơ sử - Sơ kỳ lịch sử vùng Trung Trung bộ, Việt Nam
5. Hoàng Thuý Quỳnh. Đồ gốm và đồ sắt trong văn hoá Sa Huỳnh
6. Th.S. Nguyễn Anh Thư. Giao lưu và hội nhập văn hoá Sơ sử - Sơ kỳ lịch sử vùng Trung Trung bộ, Việt Nam
7. TS. Nguyễn Hồng Kiên và Hoàng Thuý Quỳnh. Danh mục và bản đồ các địa điểm khảo cổ học Sơ sử và Lịch sử sớm miền Trung Việt Nam
02 bài nghiên cứu tham dự Hội nghị KH QT : 1. Central Vietnam during the period from 500 BC to AD 500 (The newest archaeological researchs). Bài tham dự HTQT “Conference on the early Indian Influence in Southeast Asia reflections on the cross-cultural movements” Tháng 11 năm 2007 Singapore ; 2. Regional and inter-regional Interactions in the context of Sa Huynh Culture: with regards to the Thu Bon Valley in Quang Nam province, VietnamBài tham dự HTQT IPPA , Manila, Philippines, tháng 8. 2006.
02 bài nghiên cứu đăng ở tạp chí Khảo cổ học năm 2007: 1. Gốm Di chỉ Giồng Nổi trong mối quan hệ với phức hợp gốm Sơ sử Nam Trung Bộ. Tạp chí KCH, số 2, tr. 79-86; 2. Di chỉ cư trú văn hoá Sa Huỳnh Thôn Tư. Tạp chí KCH, số 6, tr.72-87.
01 bài gửi tạp chí Khoa học của ĐHQG Hà Nội “Tiếp xúc và tiếp biến văn hoá thời Sơ sử ở miền Trung Việt Nam” đã được thẩm định để in.
02 tập báo cáo tư liệu khai quật và xử lý hiện vật của hai địa điểm RLT-GBD và Gò Duối - Hoà Diêm.
01 đề cương sách “Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Chămpa: Một số vấn đề khảo cổ - văn hoá - lịch sử”.
3.2. Kết quả đào tạo:
01 Luận án TS của Thong Lit Luổng Khột đã bảo vệ thành công ở cấp cơ sở
01 Luận văn thạc sĩ đang thực hiện của HVCH Hoàng Thuý Quỳnh (Viện Khảo cổ học) sẽ bảo vệ vào tháng 11 năm 2008.
01 Đề cương tuyển sinh NCS của thạc sĩ Nguyễn Anh Thư (Viện Khảo cổ học) đã bảo vệ thành công tháng 5 năm 2008.
Nhiều kết quả nghiên cứu của đề tài đã được sử dụng trong biên soạn đề cương môn học theo tín chỉ như Một số vấn đề của Khảo cổ học Việt Nam, Khảo cổ học Chămpa, Khảo cổ học Óc Eo... và giáo trình Cơ sở Khảo cổ học Việt Nam, đã được nghiệm thu và in ở Nxb ĐHQG Hà Nội.


 

 
 
Địa chỉ: Tầng 3-4 Nhà D - 336 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội
Điện thoại: 04. 3 5589477 / Email:baotangnhanhoc@yahoo.com