Home Bài nghiên cứu Lịch sử TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ BẮC VỀ CÁC THẦN TỰ NHIÊN
Thứ bảy, 01-11-2014   
     
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ BẮC VỀ CÁC THẦN TỰ NHIÊN

CN. Nguyễn Huy Bỉnh
Phòng Văn học dân gian

Các nhà khoa học trong khi tiến hành phân loại truyền thuyết thường ít đề cập đến loại truyền thuyết về thần tự nhiên, bởi họ quan niệm các câu chuyện kể về những vị thần này thuộc thể loại thần thoại. Tuy nhiên, xét dưới tiêu chí của thể loại truyền thuyết, chúng tôi nhận thấy có một mảng truyền thuyết xứ Bắc về thần tự nhiên khá phổ biến và được biểu hiện dưới các dạng thái khác nhau.Đó là truyền thuyết về những nhân vật nguyên dạng là thần tự nhiên và truyền thuyết về các nhân vật thần tự nhiên đã được lịch sử hoá. Các truyền thuyết này bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ thần linh, mà cơ sở ban đầu là sùng bái tự nhiên, đó là tín ngưỡng thờ thần Nước, thần Đá, thần Núi, thần Cây, thờ Tứ Pháp: Mây, Mưa, Sấm, Chớp - những hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước. Gắn liền với các tín ngưỡng thờ thần tự nhiên này là các truyền thuyết, di tích, phong tục thờ cúng và lễ hội được lưu truyền từ xa xưa. Trong bài viết này chúng tôi trình bày truyền thuyết về thần Nước, thần Núi, thần Đá và tín ngưỡng dân gian có liên quan đến các vị thần. Còn truyền thuyết về thần Cây và Tứ Pháp với dung lượng khá lớn, xứng đáng được trình bày trong bài viết khác.


 

1. Truyền thuyết về thần Nước (Thủy thần)
Trong số các tín ngưỡng thờ thần ở xứ Bắc, nổi bật nhất là tục thờ thần Nước còn gọi là tục thờ Thuỷ thần.Nhà nghiên cứuNguyễn Văn Huyên trong chuyên luận Bản đồ phân bố các vị thành hoàng của tỉnh Bắc Ninh(1)đã thống kê được 25 vị Thuỷ thần và phân bố như sau: huyện Gia Bình 11 vị, huyện Từ Sơn có 3 vị, huyện Thuận Thành có 3 vị, phủ Gia Lâm có 2 vị, huyện Yên Phong có 3 vị, huyện Tiên Du có 1 vị, huyện Quế Võ có 1 vị. Dựa vào thư mục Thần tích, thần sắc (lưu tại Thư Viện Viện Khoa học xã hội) của Viện Viễn Đông Bác Cổ điều tra năm 1938, chúng tôi thống kê được 27 vị Thuỷ thần được thờ ở Bắc Ninh, trong đó huyện Thuận Thành có 5 vị, nhiều hơn con số thống kê của Nguyễn Văn Huyên là 2 vị. Để tìm hiểu kỹ hơn về tục thờ thần Nước ở xứ Bắc, chúng tôi đã tiến hành điều tra theo hướng điền dã ở khu vực có những biểu hiện rõ nhất về tục thờ thần Nước, đó là phạm vi địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh(2). Kết quả cho thấy số lượng thờ Thủy thần ở đây trên thực tế lớn hơn rất nhiều so với sự thống kê của Nguyễn Văn Huyên và sự điều tra của Viện Viễn Đông Bác Cổ. Điều này do nhiều nguyên nhân, có thể các thời điểm điều tra thống kê không trùng nhau, trong khi các vị thần linh luôn có xu hướng phát triển theo tín ngưỡng thờ thần, nhất là thờ thành hoàng. Chính vì vậy có sự không đồng nhất về mặt số liệu cũng là điều dễ nhận thấy.
Trong đời sống tín ngưỡng dân gian Việt Nam, rắn, rồng, giao long, cá chép… là những biểu tượng linh vật thuộc về nước. Do vậy truyền thuyết và lễ tục về những con vật này đều liên quan đến tục thờ Thuỷ thần. Hiện nay dấu tích thờ cúng Thuỷ thần xuất hiện rất phổ biến dọc các dòng sông của xứ Bắc, đó là các truyền thuyết và tín ngưỡng về thần Rắn, ông Dài ông Cộc, rồng (Lạc Long Quân), Bách noãn (trăm trứng).
Truyền thuyết về thần Rắn được lưu truyền ở làng Song Liễu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; truyền thuyết về ông Cộc, ông Dài được lưu truyền dọc theo sông Cầu, sông Thương, cụ thể được ghi lại trong sách Di sản văn hoá Bắc Giang phi vật thể(3) và trong sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam(4). Qua những bản kể này cho thấy, truyền thuyết về thần Rắn và ông Cộc, ông Dài đã có rất nhiều dị bản, những vị thần này được thờ cúng ở nhiều điểm khác nhau, phong phú trong địa bàn xứ Bắc. Các vị thần hiện lên với sức mạnh điều khiển dòng nước, luôn mang lại một cảm giác sợ hãi đối với cuộc sống con người.
Các truyền thuyết về thần Rắn với nghi thức thờ cúng và trò diễn dân gian đã diễn ra ở nhiều địa phương thuộc tỉnh Bắc Ninh. Tại làng Ngọc Lâm, huyện Thuận Thành có truyền thuyết và tục thờ thần Rắn, người dân nơi đây làm mộc, ngoã cho đến các đồ thần khí đều sơn then và kiêng không có hình rồng, rắn trong các đồ chạm khắc; ở làng Liễu Ngạn (tục gọi làng Khe) huyện Thuận Thành cũng lưu truyền truyền truyền thuyết về thần Rắn và có trò chơi dân gian, tục gọi là trò Kéo rắn được tổ chức trong ngày hội làng(5).
Bên cạnh các truyền thuyết về thần Rắn, ở xứ Bắc còn có truyền thuyết về rồng là Lạc Long Quân - vị thần tổ giống nòi. Trong tâm thức người Việt thời phong kiến, rồng là biểu tượng thiêng liêng tượng trưng cho sức mạnh quyền lực của nhà vua. Nguyên thuỷ của Rồng là biểu hiện sức nước, sự hung dữ và bình yên. Tương truyền rằng: Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra trăm trứng nở ra thành trăm người con trai. Năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên núi. Lập con trưởng làm vua, gọi là Hùng Vương, còn các con thứ chia nhau mỗi người cai quản một phương.
Xung quanh nhân vật Lạc Long Quân – Âu Cơ cũng đã diễn ra rất nhiều nghi thức thờ cúng khác nhau. Tại làng Ngọc Xuyên, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh có truyện kể và tục thờ thành hoàng là Lạc Long Quân, hàng năm cứ vào ngày mùng 6 tháng 2 thì tổ chức lễ hội, to thì kéo dài đến nửa tháng, nhỏ thì trong vài ngày. Trước đây trong ngày hội, dân làng tổ chức tế lễ và các trò chơi dân gian, trong đó có trò Rồng lột diễn ra trong ngày cuối cùng của hội, nhằm để tưởng nhớ Lạc Long Quân. Trò diễn được tiến hành tại chùa Đại Bi tới đình Bái Thượng của làng Ngọc Xuyên(6). Ở thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cũng lưu truyền truyện kể và có đền, đình thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ. Hàng năm vào ngày 18 đến ngày 24 tháng Giêng, làng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ hai vị. Trong lễ hội có nghi thức Rước nước hay còn gọi là Phục ruộc được tiến hành như sau: Ông chủ tế là một bô lão được dân kính trọng nhất làng cùng với các quan văn, nữ quan đội khăn điều, mặc áo nâu đi thuyền ra giữa dòng sông Đuống chọn nơi trong nhất, lấy bình nước rước về đình tế lễ.
Truyền thuyết về Lạc Long Quân – Âu Cơ còn để lại những dấu vết về thờ cúng tôtem vật tổ. Theo sự công thức hoá pháp điển tôtem thành mười hai điều của S. Reinach đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới thừa nhận, thì trong đó có những điều mà truyền thuyết và các lễ tục về Lạc Long Quân - Âu Cơ có sự tương ứng(7).
Nối tiếp truyền thuyết và lễ tục về Lạc Long Quân – Âu Cơ là các truyền thuyết về các thần Bách noãn (trăm trứng) được thờ là Thuỷ thần lưu truyền phổ biến quanh vùng Luy Lâu - Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đó là truyện kể về ba vị thần Lạc Long, Lạc Bảo và Lạc Học. Ba vị có nguồn gốc con Lạc Long Quân ở làng Ngọ Xá, huyện Thuận Thành. Tục truyền ba vị rất linh ứng và đã phù hộ, giúp Hai Bà Trưng đánh giặc. Sau khi vua Trưng thắng giặc đã sắc phong cho ba vị là Thượng đẳng phúc thần và cấp ruộng cho dân Ngọ Xá lập đền cúng tế. Người dân nơi đây bao đời nay đã kiêng tên huý gọi Quốc là Quắc, Bảo là Biểu, Học là Hược. Trong những ngày lễ hội có tục Thả trứng. Ngoài ra còn có truyền thuyết về ba vị thành hoàng của làng Đìa, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ba vị thuộc dòng dõi Lạc Long Quân đã hiển linh báo mộng giúp Lý Bôn chống giặc.
Theo thống kê của Nguyễn Thị Huế, ngoài Á Lữ ra ở phía Nam của Bắc Ninh còn có 15 điểm thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ và 56 điểm thờ các thần Bách Noãn(8). Qua những truyền thuyết và các điểm thờ cúng trên cho thấy, vùng đất xứ Bắc từ xa xưa đã tồn tại một quần thể tín ngưỡng văn hóa về thời kỳ khởi nguyên của dân tộc Việt.
Cùng với truyền thuyết về các vị Thuỷ thần có nguồn gốc là thần tự nhiên, còn có truyền thuyết về các nhân vật nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa được thờ là Thuỷ thần, tiêu biểu như truyền thuyết về Trương Hống, Trương Hát (Hách), hay còn được gọi là Thánh Tam Giang. Hiện nay có nhiều truyền thuyết đã được ghi chép thành thần tích nói về sự tích Trương Hống, Trương Hát.
Truyền thuyết về Trương Hống, Trương Hát đã kể về người anh hùng sinh ra từ bọc trứng với các tình tiết như: Sinh nở thần kỳ (Bà mẹ nằm mộng ra sông Lục Đầu tắm gặp thần Long quấn quanh mình rồi có thai sinh ra bọc 5 trứng, nở ra thành 4 trai 1 gái. Đặt tên là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và Trương Đạm Nương); Nhân vật đã lập chiến công phi thường (Trương Hống và Trương Hát đánh thắng quỷ, giúp Triệu Quang Phục phá giặc Lương); Kết thúc là nhân vật đã hiển linh phù trợ và được thờ tự (Giúp Lý Thường Kiệt phá quân Tống, được thờ từ thượng ngã ba Xà đến hạ lục đầu giang dọc sông Cầu, sông Thương)...
Riêng truyền thuyết lưu truyền ở làng Gia Thượng và Cầu Lỗi, tổng Gia Thuỵ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh lại kể sự tích thần sông Như Nguyệt Trương Hống, Trương Hát báo mộng cho nhà vua biết sẽ giúp vua đánh giặc. Nhà vua đánh trận ấy quả thắng to, vua bèn cho lập đền thờ phụng gọi là Nhất Phương Thần, chiếu phong cho người anh làm Đại Đương Giang hộ quốc Phúc thần, lập đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt; phong cho người em làm Tiểu Đương Giang hộ quốc Phúc thần, đền thờ ở cửa Nam Bình, hương hoả bất tuyệt.
Nhận xét về hiện tượng này, Tạ Chí Đại Trường cho rằng: “Đây là hai thần sông mà qua câu chuyện báo mộng, họ cho biết Thượng Đế đã phong cho cả hai anh em, không phân biệt, chức Than hà long quân phó sứ, hiệu là Tuần Giang Đô Phó Sứ. Dùng chữ Thượng Đế có nghĩa là đẩy lùi sự kiện về lúc khởi thuỷ, xét từ bản chất của Thần: Thần là thác trên sông (than hà), hiện diện dọc theo (tuần giang) sông Thương (Vũ Bình, Nam Bình), sông Cầu (Lạng Giang). Nhận định như thế, ta có thể giải thích về nguồn gốc tên của Thần: Hống và Hát, tiếng nước réo trên thác, trên sông, một đe doạ, một quyến rũ (mà cũng hàm chứa sự lôi cuốn nguy hiểm), đầy đủ quyền uy và hấp dẫn của siêu nhiên(9). Ông cũng đã giải thích rõ về nguồn gốc của thần Trương Hống, Trương Hát, lúc đầu chỉ có một dạng, đó là thần hợp lưu làm nên sông Thái Bình, rồi việc phân hai thần trên vùng nước dữ này bắt đầu trong lối nói ẩn dụ trong Việt điện u linh tập. Tuy nhiên tính chất “Nhị vị nhất thể” của thần vẫn được duy trì. Sông Cầu dữ dội nên có ông anh là Trương Hống làm Đại Vương Giang Thần Vương, và sông Thương dòng chảy yếu hơn phải có thần Trương Hát chịu làm em để chia nhau giữ nước…
Trong tục thờ Thuỷ thần ở xứ Bắc còn để lại những dấu vết về tục hiến tế - một tín ngưỡng tối cổ của nhân loại. Những mẩu chuyện về hiến tế là những chứng tích xa xưa, những mảnh vụn của thần thoại về thời kỳ khởi nguyên của loài người(10).
Xứ Bắc có hệ thống sông ngòi dày đặc, đó là các con sông: Dâu, Cầu, Thương, Đuống, Lục Nam, Thái Bình... Đa số dân cư nơi đây sinh sống bằng nghề chài lưới và trồng lúa nước, do vậy đối với người dân nước có vai trò hết sức quan trọng, nước vừa mang lại nguồn sống và cũng chính là thủ phạm gây nên thiên tai và đe doạ cuộc sống con người. Theo quy luật tự nhiên, để trấn áp nỗi sợ hãi, các cư dân vùng sông nước đã thờ Thuỷ thần nhằm cầu mong sông nước hiền hoà, mùa màng tươi tốt, đánh bắt được nhiều sản vật dưới sông, muôn vật và con người sinh sống và đi lại thuận lợi. Như vậy tín ngưỡng thờ Thuỷ thần ở xứ Bắc có môi trường phát triển, trước hết do nhu cầu nội tại của nó - sự bức xúc của cuộc sống sông nước. Chính vì vậy các vị Thuỷ thần thường được lưu truyền và thờ cúng dọc theo các bờ sông. Ở xứ Bắc truyền thuyết và các lễ tục về tục thờ cúng Thuỷ thần rất phổ biến và diễn ra theo hai vệt chính là: Dọc theo những dòng sông cổ ở các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài của tỉnh Bắc Ninh như: sông Đuống, sông Dâu, sông Cụt, sông Ngụ… ta còn thấy hàng loạt các điểm thờ và ken dày những truyện kể, những lễ tục, lễ hội về Lạc Long Quân – Âu Cơ và các thần Bách noãn, cùng với các tướng lĩnh, các vị anh hùng khác của các thời đại. Dọc theo dòng sông Cầu, sông Thương là truyền thuyết và các điểm thờ cúng Trương Hống – Trương Hát.
2. Truyền thuyết về thần Núi (Sơn thần)
Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới(11): Núi vừa tượng trưng cho chiều cao, vừa là điểm trung tâm. Với những đặc điểm: cao, thẳng đứng, gần trời, núi tham gia vào biểu tượng của các siêu tại, siêu phàm với tính cách là trung tâm của những hiện tượng hiển linh trong khí quyển và rất nhiều sự tích thần hiện, núi thuộc là biểu tượng của cái bản thể biểu hiện…
Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh khi nói về các Sơn thần được thờ là thành hoàng ở Việt Nam đã lý giải: “Sơn thần nước ta thể hiện thành một hệ tương đối thống nhất. Đó là hệ Sơn Tinh tức là hệ Tản Viên(12). Rồi ông cho rằng: Sự tích về Sơn thần ban đầu được ghi chép lại trong Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư. Đến khi Nguyễn Bính biên soạn lại thần tích trên cơ sở lời khai của dân địa phương đã xuất hiện nhiều tình tiết khác về hệ Sơn thần. Bên cạnh Tản Viên sơn thánh ở ngôi tối cao, còn có Cao Sơn thống lĩnh tả bộ Sơn thần, Quý Minh thống lĩnh hữu bộ sơn thần. Ba vị Sơn thần này gắn với ba đỉnh núi Ba Vì. Lấy núi Ba Vì làm trung tâm thì Sơn thần phát triển theo hướng tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng. Nhánh hữu ngạn lại chia làm hai hướng từ Sơn Tây – Hà Đông – Hà Nam – Nam Định – Thái Bình – Ninh Bình, hướng thứ hai từ Sơn Tây – Thanh Hoá - Nghệ An. Nhánh tả ngạn cũng chia làm hai hướng, thứ nhất từ Sơn Tây – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, hướng thứ hai từ Sơn Tây - Bắc Ninh - Bắc Giang – Hưng Yên - Lạng Sơn – Cao Bằng – Tuyên Quang. Dựa trên bản đồ phân bố các vị thành hoàng ở Bắc Ninh của Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Duy Hinh đưa ra nhận định: Ở Bắc Ninh có 7 Sơn thần, còn ở Bắc Giang thì số Sơn thần không nhiều lắm.
Trên thực tế ở xứ Bắc nói chung và tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang nói riêng, số lượng Sơn thần được thờ lớn hơn rất nhiều. Theo số liệu thống kê của Sở Văn hoá Thông tin nay là Sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Bắc Giang có đến 150 nơi thờ Cao Sơn, Quý Minh trên khắp các làng xã của tỉnh. Ngoài ra còn rất nhiều nơi ở xứ Bắc thờ các vị thần này nhưng chưa được thống kê.
Trong địa bàn xứ Bắc tục thờ thần Núi gắn liền với truyền thuyết về Cao Sơn, Quý Minh. Hiện có di tích chỉ thờ Cao Sơn hoặc Quý Minh, nhưng có những di tích thờ cả hai. Các di tích thờ thường là đền và đình. Theo truyền thuyết và thần tích làng Ngâm Mạc, tổng Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh: Vào đời Hùng Duệ Vương có hai vợ chồng người Hồng Châu đến chùa Thiên Thai cầu tự. Đêm nằm thấy hai ngôi sao sa xuống, từ đấy thụ thai, sau sinh ra một bọc hai con trai, mặt mũi khôi ngô khác thường đặt tên là Cao Sơn và Quý Minh, năm lên 6 tuổi đi học, năm 16 tuổi học lực tinh thông, kiêm cả tài võ nghệ. Hùng Duệ Vương cho tìm người tài, hai ngài bèn đến chầu vua. Vua phong cho làm Đô chỉ huy sứ Tướng quân. Thục Phán của bộ Ai Lao dấy quân, vua sai hai ngài đem quân đi bình giặc Thục, phong hai ngài làm Tả, Hữu tướng quân. Hai ngài cùng đức thánh Tản Viên đem quân đến núi Sóc Sơn, đạo Kinh Bắc, mới đánh một trận giặc Thục thua chạy tan tác. Vua ban cho ngài thực ấp ở đạo Kinh Bắc. Ngài về chỗ trú sở đóng quân trước, tự nhiên trời nổi cơn mưa gió, có một đám mây sa xuống dinh ngài, rồi ngài hoá vào ngày 12 tháng 11.
Biểu hiện núi, sông trong tâm thức người Việt rất rõ ràng, trên những dòng sông hung dữ đã ra đời những vị Thuỷ thần, còn trên những ngọn núi cao hùng vĩ đã xuất hiện các vị Sơn thần. Nhà nghiên cứu văn hoá Ngô Đức Thịnh trong cuốn Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam(13)đã giải thích tục thờ Sơn thần theo vũ trụ luận nguyên sơ của phương Đông với các cặp tương sinh tương khắc và đối lập với nhau như Sông – Núi, Đất - Nước… Những cặp đối lập này là môi trường sống quen thuộc của con người, đặc biệt là đối với cư dân nông nghiệp lúa nước ở xứ Bắc, họ sống phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên và đất, nước có vai trò vô cùng quan trọng. Trong hệ tư duy huyền thoại của người dân luôn quan niệm vạn vật có linh hồn, chính vì vậy họ luôn cầu mong sự phù hộ của các thần tự nhiên và Sơn thần là một dạng thức đó.
Trên cả một vùng xứ Bắc rộng lớn có rất nhiều núi và nơi nào có núi thường có di tích thờ Cao Sơn, Quý Minh. Bên cạnh đó còn có một vệt thờ hai nhân vật này nằm rải rác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ở xứ Bắc, tục thờ Thần núi mang đặc trưng riêng, không còn là một hệ thần núi bao gồm bộ ba Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn, Quý Minh, mà chỉ gồm có Cao Sơn, Quý Minh. Trên thực tế Cao Sơn, Quý Minh được các thần tích ghi chép lại và được truyền thuyết hoá rất nhiều nơi với những dạng thức khác nhau như được ghi chép dưới dạng thần tích theo kết cấu hoàn chỉnh: sự ra đời, chiến công và hoá thân, cũng có khi họ hiện lên dưới báo mộng, phù trợ giúp các tướng lĩnh đời sau đánh giặc ngoại xâm.
3. Truyền thuyết về thần Đá (Thạch thần)
Xứ Bắc có rất nhiều nơi thờ thần Đá và gắn liền với nó là các truyền thuyết và sinh hoạt tín ngưỡng dân gian. Theo số liệu thống kê của Trần Đình Luyện trong chuyên khảo Luy Lâu lịch sử và văn hóa(14) có những dạng đá thiêng như sau: Trụ đá Thạch Biểu hay Biểu Nương Phật - vị tướng của Hai Bà Trưng ở thôn Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh; Hòn đá dấu chân của Thánh Gióng và cột đá dùng để buộc ngựa của Thánh Gióng ở thôn Thượng, xã Vạn Linh, huyện Gia Lương, Bắc Ninh; Bia đá “Lý Gia Linh Thạch” ở xã Tương Giang, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Cột đá chạm rồng và Bàn cờ đá (bàn cờ tiên) ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ (nay thuộc thành phố Bắc Ninh ); Bàn đá (Điện kính thiên)ởxã Đức Long, huyện Quế Võ, Bắc Ninh; Tảng đá nguyên khối Thần Cao Sơn, tướng của Hùng Vương ở Xã Vân Tương, huyện Việt Yên, Bắc Giang; Tảng đá nguyên khối Thạch Linh thần tướng, tướng của Hùng Vương ở xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, Bắc Giang; tảng đá (gọi là ve đá dựng: Thần Quý Minh tướng của Hùng Vương) ở xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, Bắc Ninh.
Ngoài ra còn có rất nhiều nơi thờ thần đá ở xứ Bắc hiện chưa được đề cập đến, như: Ba pho tượng đá ở chùa Khám, làng Ngọc Khám, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Ba ông bụt bằng đá thờ ở chùa Bụt Mọc, thôn Sơn Đông, xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc thành phố Bắc Ninh)... Tuy nhiên, trong số các nơi thờ đá, chỉ tồn tại một số truyền thuyết nhất định. Chúng tôi phân chia làm hai dạng truyền thuyết về thần đá như sau:
Dạng 1: Truyền thuyết về thần Đá có nguồn gốc tự nhiên
Truyền thuyết thứ nhất đó là truyền thuyết về “Thạch Quang Phật” được gắn liền với câu chuyện kể về Man Nương. Tương truyền khi toán thợ tạc bốn pho tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện khi cưa vấp phải hòn đá, cưa bị gãy rời. Toán thợ ném hòn đá ấy xuống sông, đá vừa chạm nước, một luồng hào quang liền phát ra rực rỡ giữa dòng. Sĩ Nhiếp biết chuyện cho tìm hòn đá, nhưng phường đánh cá tìm mãi không thấy đá. Sĩ Nhiếp cho tìm Man Nương đến, mong cậy nhờ người nhiều phép lạ ra tìm. Man Nương bơi thuyền ra sông, nàng vừa khấn dứt lời, hào quang bỗng rực sáng khắp mặt sông. Viên đá vụt nhảy lên khỏi mặt nước rồi rơi vào giữa thuyền. Sau đó hòn đá được thờ là Thạch Phật, nhiều người gọi đó là đức Thạch Quang để ghi nhớ viên đá phát ra ánh sáng chói loà.
Truyền thuyết Thạch Quang Phật kể về nguồn gốc của Phật Pháp có dạng kết cấu CÂY - ĐÁ - PHẬT, với các tình tiết như: Sự ra đời của nhân vật (Phật Thạch Quang ra đời từ thân cây Dung Thụ); Sự hóa thân của nhân vật (sư Khâu Đà La đặt đứa bé vào thân cây, thân cây hóa thành đá, đá hóa thành Phật).
Qua điền dã chúng tôi được người dân làng Mèn kể cho nghe về sự tích Phật Thạch Quang, họ gọi bằng một tên rất gần gũi là Mẫu Nhi rồi phong là Thạch Vương Quang Phật. Trong khi cúng tế người dân kiêng tên huý đọc Thạch Quang là Thạch Cuông (Quông). Bà Nguyễn Thị Quyền 70 tuổi ở thôn Mãn Xá Tây, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh kể rằng: Làng Mãn Xá ban đầu có tên gọi là làng Mèn - quê của Man Nương. Khi Man Nương sinh ra Mẫu Nhi bà bị mang điều tiếng xấu, không chồng mà sinh con. Đến khi bà tu tại thành Phật thì tất cả những điều tiếng xấu được xoá bỏ, từ đấy người dân đã đặt tên làng Mèn là Mãn Xá như một chứng tích nói về sự trong sạch của bà.
Truyền thuyết thứ hai là truyền thuyết về Thạch Tướng Quân. Truyền thuyết về Thạch Tướng Quân có những tình tiết gần gũi với truyền thuyết Thánh Dóng, như nhiều tuổi vẫn chưa biết nói cười, khi thấy xứ giả tìm người hiền tài cứu nước bỗng chuyển mình thành một người cao lớn, xin nhà vua cấp cho vũ khí để giết giặc. Sau khi ra trận giết hết lũ giặc, quay về đến trang Tiên Lát, xuống voi vào lạy chào cha mẹ nuôi rồi lên núi Phượng Hoàng bay lên trời. Dấu tích thờ tự hiện vẫn còn ở Tiên Lát, Việt Yên, Bắc Giang. Nhưng bên cạnh đó cũng có những nét khác biệt, nếu như Thánh Dóng sinh ra do người mẹ ướm phải vết chân lạ, rồi xin nhà vua đúc ngựa sắt, áo giáp sắt, một cây gậy sắt để ra trận thì trong truyền thuyết về Thạch Tướng Quân, Thạch Tướng Quân sinh ra từ đá, khi ra trận xin nhà vua đúc cho các vũ khí bằng đá, như: voi đá, cờ lệnh đá, kiếm đá.
Truyền thuyết thứ ba mang đậm tính chất thần thoại đó là câu chuyện về ông Đổng ở vùng Bắc sông Đuống thuộc thôn Đổng Viên, xã Phù Đổng ngày nay. Ở thôn Đổng Viên có một tảng đá, in hằn dấu chân lớn, tương truyền đó là dấu chân ông Đổng để lại, bà mẹ Gióng ra ướm thử rồi về sinh ra Gióng. Vì thế dân gian gọi ông Gióng là ông Đổng con.
Bản khác kể rằng ông Đổng là sư, tu ở núi Phả Lại. Ông đúc một chiếc chuông đồng đen cực lớn, đánh lên tiếng kêu vang lừng Bắc Quốc, trâu vàng Trung Quốc nghe thấy chạy sang. Lo sợ sẽ có binh đao nên ông Đổng đã đạp đổ cái chuông xuống sông Lục Đầu, chỗ ấy gọi là Vực Chuông.
Ông Đổng là hình tượng người khổng lồ, đây cũng là một motif quen thuộc trong truyện kể dân gian Việt Nam, đặc biệt là trong thần thoại. Hình tượng ông Đổng là một trường hợp độc đáo, bởi nó là một minh chứng sống động phản ánh về một vùng đất cổ, đồng thời biểu hiện dấu ấn tư duy huyền thoại của người dân xứ Bắc.
Dạng 2: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử có nguồn gốc từ tục thờ thần Đá
Ở dạng này có truyền thuyết về hai nhân vật là Cao Lỗ và Kỳ Nữ Thạch Biểu. Trong truyền thuyết dân gian xứ Bắc, Cao Lỗ cũng được coi là một vị thần đá: “Cao Lỗ là ai? Sử ký của Đỗ Thiện đời Lí dẫn Giao châu ký cho biết Cao Lỗ có “tục hiệu” là Đô Lỗ hoặc rõ hơn là thần Đá (Thạch thần). Tục hiệu là chứng cớ để xác định nguồn gốc và tính chất của thần. Thần Đá nấp sau danh hiệu Hán hoá Cao Lỗ, lù lù cao lớn, rõ ràng vẫn là đá lù lù đẹp đẽ (đô lỗ), không mất tính chất chỉ nội dung bản địa của Thần. Rồi đến khi người ta bớt lưu ý đến hình dạng tính chất nguyên thuỷ của Thần thì tước phong các năm 1285, 1288 để chỉ nội dung đức tính gắn cho Thần cũng vẫn vướng víu ý nghĩa đá: cứng cỏi (quả nghị), cứng thẳng (cương chính)(15).
Căn cứ theo văn bản truyện kể của Truyện cổ xứ Bắc(16)thì truyền thuyết về Cao Lỗ đã kể về nhân vật Anh hùng chống giặc ngoại xâm, với các tình tiết cơ bản như: Nhân vật sinh nở thần kỳ (Bà mẹ nằm mơ thấy rắn trắng quấn vào người rồi có mang, sinh ra Cao Lỗ). Nhân vật lập chiến công (Giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa; chế tác ra lẫy nỏ; đánh thắng giặc). Nhân vật hoá thân và được tôn vinh, (Tướng Cao Lỗ chống giặc ngoại xâm và tổ nghề lẫy nỏ “Ông Nỏ”). Nhân vật được thờ tự (Dân làng Tiểu Than, Đại Than, Văn Than, Bình Than, Phù Than, Mỹ Lộc, Kênh Phố thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh lập đền thờ, tục gọi là đền Than). Ngoài ra ở Cổ Loa cũng có ngôi đền thờ Cao Lỗ. Kiêng kỵ (Người dân vùng Đại Than, kiêng tiếng Lỗ gọi là Lọt).
Bản kể trong cuốn Danh nhân lịch sử Kinh Bắc(17) lại kể rằng: Sau khi đánh thắng quân giặc, Cao Lỗ khuyên can An Dương Vương không nên để Trọng Thuỷ sang ở rể, nhưng vua không nghe, ông bèn về quê và mất ở đó trong cuộc chiến đấu chống quân Triệu Đà.
Gắn liền với các truyền thuyết là các di tích, các lễ hội và tín ngưỡng dân gian được người dân tiến hành để tưởng nhớ đến các vị thần đã có công cứu dân, cứu nước, đồng thời cầu mong những điều tốt đẹp sẽ đến với dân làng. Lễ hội và tín ngưỡng về Cao Lỗ cũng không ngoại lệ. Theo người dân làng Tiểu Than ngày 4 tháng tư Âm lịch là ngày Cao Lỗ bị An Dương Vương sai võ sĩ đem đi giết, ngày 10 tháng ba Âm lịch là ngày sinh của Cao Lỗ. Ngày sinh và ngày mất của ông được lấy là ngày tổ chức lễ hội tưởng niệm Cao Lỗ ở đình và đền.
Trong lễ hội tưởng nhớ Cao Lỗ thường có những tục hèm, làng Tiểu Than có trò Rồng rắn(18), trò diễn này có nhiều điểm giống với trò Rồng lột trong lễ tục thờ Lạc Long Quân ở làng Ngọc Xuyên. Đến ngày giã đám làng Tiểu Than còn có trò Đuổi bệt, tục còn gọi là trò Đuổi hổ(19). Các trò diễn dân gian này nhằm diễn lại sự tích về lúc sinh ra và lúc mất đi của nhân vật Cao Lỗ, đây chính là hai thời khắc quan trọng nhất trong cuộc đời của ông.
Truyền thuyết thứ hai là truyền thuyết về Kỳ Nữ Thạch Biểu. Nếu như tục hiệu chính là chứng cớ để xác định nguồn gốc và tính chất của thần, thì ta có thể xác định Kỳ Nữ Thạch Biểu là một vị thần Đá, truyền rằng: Nàng là nữ tướng Hai Bà Trưng, là người tài sắc, múa hay, hát giỏi. Thạch Biểu liên lạc với quân Hai Bà Trưng bàn cách đánh thành. Gánh hát của nàng vào thành phục vụ, dò la kho quân lương, vũ khí và cách bố trí của địch. Gánh hát phóng hoả cho đốt kho lương thực, kho đạn. Quân Hai Bà Trưng tràn vào đánh đuổi Tô Định.
Truyền thuyết Kỳ Nữ Thạch Biểu kể về nhân vật Anh hùng chống giặc ngoại xâm, với chiến công giúp Hai Bà Trưng đánh thắng giặc ngoại xâm. Truyền thuyết này được gắn với dấu tích thờ cúng hiện nay là hòn đá hình người được thờ tại làng Thanh Tương, Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Trong quá trình điền dã để tìm hiểu về tín ngưỡng và cách thức tôn thờ Kỳ Nữ Thạch Biểu, chúng tôi nhận thấy người dân nơi đây không còn nhớ sự tích về bà. Nhưng hiện vẫn còn tục thờ bà ở đền thôn Thanh Tương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền nhỏ mới được xây dựng lại, trong đền có đôi câu đối:
Quốc sắc khuynh thành thiên hạ hữu
Anh linh thần nữ thế gian vô.
Theo lời kể của ông Trần Bá Uy 71 tuổi và ông Trần Bá Diễn 69 tuổi ở thôn Thanh Tương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh: Hàng năm trong những ngày hội diễn ra rước và tế lễ Kỳ Nữ Thạch Biểu. Ngày 30 tháng Chạp rước tượng bà (bằng gỗ) từ đền ra đình làng, ngôi đình này thờ Sĩ Vương khi đọc kiêng tên huý thành Sỡi Vương. Đến ngày 11 tháng 1 dã đám thì rước về.
Thờ thần Đá là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới, tuy nhiên ở xứ Bắc tục thờ thần Đá gắn liền với các truyền thuyết, câu chuyện về những nhân vật vừa hoang đường lại vừa gần gũi với người dân. Rồi ban đầu từ tục thờ thần Đá lại được bồi đắp thêm những lớp văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo và cả yếu tố lịch sử sau này tạo ra một hệ thống các lớp văn hoá có chiều sâu và các cấp độ khác nhau. Qua trình bày truyền thuyết về các nhân vật được thờ là thần Đá ở xứ Bắc cho thấy các nhân vật này được biểu hiện dưới dạng tôn giáo hoá (Phật hoá) và biểu hiện dưới dạng lịch sử hoá trở thành các anh hùng chống giặc ngoại xâm.
Kết luận
Quá trình khảo sát truyền thuyết xứ Bắc về các nhân vật được thờ, chúng tôi nhận thấy có hai dạng nhân vật thần tự nhiên: Một là những nhân vật có nguồn gốc tự nhiên, hai là những nhân vật có nguồn gốc nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa. Những nhân vật có nguồn gốc là thần tự nhiên chiếm số lượng không nhiều, biểu hiện niềm tin của người dân theo quan niệm cổ xưa Vạn vật hữu linh (Các vật đều có linh hồn). Còn các nhân vật nửa tự nhiên nửa lịch sử hóa được thờ khá phổ biến, qua các chứng tích còn lưu lại cho thấy nguồn gốc ban đầu của các nhân vật này đều là các vị thần tự nhiên, càng về sau này trải qua nhiều triều đại, các lớp văn hoá mới được bồi đắp và phát triển lên làm cho các vị thần tự nhiên mang dáng dấp các vị nhân thần. Quá trình nhân hóa các vị thần tự nhiên là dấu tích của sự vận động trong việc hình thành hệ nhân thần, đó là biểu hiện của sự tự khám phá và ý thức về mình của con người.
Truyền thuyết xứ Bắc về các nhân vật thần tự nhiên phản ánh quá trình truyền thuyết hóa thần thoại. Các thần thoại ban đầu kể về những hiện tượng tự nhiên nhằm giải thích nguồn gốc vũ trụ, nguồn gốc loài người và mơ ước sống hòa hợp với tự nhiên, đó là trí tưởng tượng về vũ trụ quan được gắn với các vị thần linh. Nhưng về sau này thần thoại trở nên gần gũi với cuộc sống của người dân hơn, thần thoại được truyền thuyết hóa rất mạnh mẽ, không còn giữ được nguyên dạng ban đầu. Rất nhiều các vị thần trong thần thoại đã đi vào truyền thuyết với tư cách là những nhân vật lịch sử, trở thành tổ tiên của dân tộc hoặc cũng có thể là những vị tướng lĩnh chống giặc, những anh hùng sáng tạo văn hóa… Các truyền thuyết này biểu hiện sự biến chuyển từ tư duy huyền thoại đến tư duy tôn giáo, từ thần thoại đến truyền thuyết. Điều này do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là việc ghi chép lại thần tích của các triều đại, dẫn đến việc lịch sử hoá các vị thần tự nhiên thành những nhân vật lịch sử, hoặc gắn với các nhân vật lịch sử những bản tính của thần. Khi đã được truyền thuyết hóa thì các nhân vật thần thoại trở nên có một lý lịch rõ ràng hơn, mang đậm dấu ấn của truyền thuyết, thường có dạng kết cấu: Sinh nở thần kỳ, chiến công phi thường và hóa thân kỳ ảo.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 4, 2009
____________
(1) Nguyễn Văn Huyên: Góp phần tìm hiểu văn hoá Việt Nam, Tập I. Nxb. Khoa học xã hội, H, 2003, tr.715.
(2) Xin xem Nguyễn Huy Bỉnh: Truyền thuyết về Thủy thần ở Thuận Thành, Bắc Ninh,  in trong Thông báo Văn hóa dân gian. Nxb. Khoa học xã hội, H, 2004, tr.431.
(3) Nhiều tác giả: Di sản văn hóa Bắc Giang về văn hóa phi vật thể. Bảo tàng Bắc Giang xuất bản, 2006, tr.721.
(4) Nguyễn Đổng Chi: Kho tàng cổ tích Việt Nam (5 tập), in lần hai. Viện Văn học xuất bản, H, 1993.
(5) Xin xem Nguyễn Duy Hợp, Vũ Hữu: Dấu thiêng Dâu – Luy Lâu. Nxb. Thanh Niên, H, 2008, tr.8.
(6) Xin xem Địa chí Hà Bắc. Ty Văn hoá và thông tin Hà Bắc xuất bản 1982, tr.629.
(7) Xin xem: Phân tâm học và văn hoá tâm linh trong đề mục Sự trở lại ấu thơ của tục tôtem (Đoàn Văn Chúc dịch). Nxb. Văn hoá - Thông tin, H, 2004.
(8) Đặng Văn Lung, Nguyễn Thị Huế, Trần Gia Linh (biên soạn): Văn hoá Luy Lâu và Kinh Dương Vương. Nxb. Hội nhà văn, H, 1998, tr.147.
(9) Tạ Chí Đại Trường: Thần người và đất Việt. Nxb. Văn hoá - Thông tin, H, 2006, tr.47-48.
(10) Theo quan niệm của những người dân vùng sông nước xứ Bắc trước kia, cụ thể là những dân chài ven vùng sông Đuống, tất cả những người bị rơi xuống sông và chết đuối có thể coi là do Thuỷ thần bắt đi. Chính vì thế, nếu không phải là người ruột thịt trong gia đình thì không ai trong số những người đang sống lại dám cứu vớt người gặp nạn. Vì nếu cứu người gặp nạn thì bản thân người cứu ấy sẽ gặp hoạ như vậy, tức là phải đền mạng cho Thuỷ thần. Sau này, khi qua sông nếu có sóng nước dữ dội, người ta thường thả những con vật, hoặc những đồ vật xuống sông nhằm hiến cho Thuỷ thần thay cho phải hiến mạng người. Bên cạnh đó, trong các đền, đình thờ Thuỷ thần người ta thường làm những đồ tế lễ để dâng hiến lên các vị Thuỷ thần.
(11) Jean Chevalier, Alain Gheerbrant: Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (Phạm Vĩnh Cư chủ biên dịch). Nxb. Đà Nẵng - Trường Viết văn Nguyễn Du, 1997, tr.699.
(12) Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam. Nxb. Khoa học xã hội, H, 1996, tr.107.
(13) Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam. Nxb. Khoa học xã hội, H, 2001, tr.98.
(14) Trần Đình Luyện: Luy Lâu lịch sử và văn hoá. Sở Văn hoá - Thông tin Bắc Ninh xuất bản, H, 1999.
(15) Tạ Chí Đại Trường: Thần người và đất Việt. Sđd, tr.32
(16) Nhiều tác giả: Truyện cổ xứ Bắc. Bảo tàng Hà Bắc xuất bản 1990.
(17) Trần Quốc Thịnh: Danh nhân lịch sử Kinh Bắc, Nxb. Lao động, H, 2004.
(18) Tục chơi này chỉ có nam thanh niên làng tham gia, riêng người đội đầu rồng là thanh nữ được hoá trang đơn giản, chân quấn xà cạp, mặc áo xanh hoặc đỏ, đầu quấn khăn đầu rìu, ngang lưng thắt bao tượng, để thừa đầu bao dài để người nọ túm vào đầu kia, đoàn người chơi rồng rắn, người này túm vào bao trượng người kia, kéo từ chùa lên đình, đi liền vào trong hậu cung 3 vòng và kéo ra sân. Truyền rằng trò chơi rồng rắn để diễn lại sự tích bà Đỗ Thị nằm mơ thấy rắn cuốn quanh giường, rồi có thai sinh ra Cao Lỗ.
(19)Trò diễn ra như sau: Người dân đặt một cái bàn trước nhang án được quây màn, tượng trưng đó là quán rượu, trong màn là một người đóng đang uống rượu giả say như ở quán, bên ngoài là hai cháu, một trai ở bên tả, một gái ở bên hữu, giữa là một quan viên, cầm sách đọc văn dạy hai cháu nhắc lại theo từng đoạn nhịp, hết mỗi đoạn nhịp lại quay ba vòng, tay che quạt trên đầu. Sau khi đọc xong, chú cùng hai cháu cầm gậy ra đuổi hổ. Người đóng hổ là một thanh niên đội lốt hổ, đầu hổ được làm đơn giản, thường người ta lấy một chiếc khau tát nước bồi giấy vào và vẽ hình đầu hổ. Người đội lốt hổ ngồi lấp ở phía ngoài đầu đình, có cành cây che kín. Khi ba chú cháu cầm gậy ra, người và hổ đuổi đánh nhau 3 vòng xung quanh đình, đến khi hổ mệt bỏ chạy ra mả mò than (tức miếu Dựng) chú cháu đuổi theo lấy được lốt hổ, đem đốt tượng trưng như đã giết được hổ, giành lại xác Cao Lỗ cho dân làng an táng.
 
 
Địa chỉ: Tầng 3-4 Nhà D - 336 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội
Điện thoại: 04. 3 5589477 / Email:baotangnhanhoc@yahoo.com