Home Bài nghiên cứu khảo cổ ĐỒNG TIỀN DINAR SIMHAPURA.
Thứ năm, 15-11-2018   
     
ĐỒNG TIỀN DINAR SIMHAPURA.

 

 

ĐỒNG TIỀN DINAR SIMHAPURA.

 

GIAO LƯU GIỮA VƯƠNG QUỐC CHAMPA

VÀ VÙNG VỊNH PÉC XÍCH.

alt

 

Bản đồ Á Châu . Vịnh Péc Xích và Việt Nam. Nguồn Internet.

 

Tại Óc Eo, Nứơc Phù Nam, người ta tìm gặp được tiền Marcô Aurêliô, đế quốc Rô Ma cuối thế kỷ 1, đầu thế kỷ thứ 2 , thông tin đó minh chứng rằng dù Vasco de Gama chưa vượt Mũi Bão Tố ( Cap des Tempêtes ) mà sau được gọi là Mũi Hảo Vọng ( Cape Hope), thế giới cổ đại đã có những việc trao đổi sản vật, tiền tệ với nhau thông qua con đường tơ lụa trên bộ từ Âu Châu sang Trung Quốc hoặc từ Âu Châu qua Bán đảo A rập. Từ khi Hồi giáo được hình thành và nối kết với các quốc gia cùng chung tôn giáo, việc giao thương từ vùng vịnh Péc xích đến Nhật Bản được phát triển mạnh hơn nữa. Các thủy thủ chu du các miền đất lạ mang những câu chuyện lý thú về những vương quốc xa xôi, đầy huyền thọai, những truyền thuyết nữa thực nữa hư đó góp phần tạo thành sách  Ngàn lẻ một đêm. Ngòai ra qua tài liệu hành trình, các nhà phiêu lưu kể về  miền Viển Đông, về Trung Quốc, Nhật Bản, Vương quốc Champa giàu có với  Cù lao Chàm , Simhapura ( Sư tử Thành) đặc biệt đánh giá cao về trầm hương và kỳ nam khiến người dân Vùng Vịnh háo hức muốn phiêu lưu , buôn bán. Tại kinh đô Simhapura ( thành phố sư tử) Trà Kiệu hoặc tại Cù lao Chàm , người ta tìm gặp nhiều món đồ gốm sứ , tiền tệ Trung Quốc đời nhà Hán, Nhà Đường, nhà Tống . Việc đó chứng minh cho sự giao lưu thương mại rất sớm giữa hai nước nầy. Trong khi đó, dấu vết vật thể của vùng Cận Đông , ngòai một vài mảnh gốm sứ, rất khó tìm thấy những vật dụng khác nơi đây. Về tôn giáo : Ấn Giáo và Phật Giáo phổ biến nơi vương quốc nầy với các di tích như Mỹ Sơn, Phật viện Đồng Dương , trong khi đó, dấu ấn Hồi Giáo hình như được chưa được tìm thấy ở vùng Amaravati ( Quãng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên).

Vào thập niên 1980, phong trào Hợp tác hóa ồ ạt được triển khai ở vùng Duy Xuyên và các huyện tỉnh Quảng Nam. Chương trình cải tạo mặt bằng và thủy lợi  được phát động nhanh chóng để đưa nước vào ruộng và tạo lại diện mạo nông thôn mới . Tại xã Duy Sơn, Duy Trinh, Duy Trung…trong khi đào bới, nhiều hiện vật bằng gốm sứ, đất nung và vàng bạc được nông dân tìm thấy. Đồ sứ và đất nung bể tan dưới các nhát cuốc, cúp, xà beng…vì đã nằm hàng ngàn ngàn năm dưới đất ẩm. Thỉnh thỏang người ta lại tìm thấy một số đồ trang sức bằng vàng, bạc. Tin đồn được tung ra, thêu dệt thêm …khiến “ phong trào đải vàng” nổi lên như sóng cồn. Chổ nầy, nhóm kia khoe họ đã đải được mấy li , mấy chỉ…Nào là vàng 8, vàng 7 gì đó. Vàng làm chói mắt, mọi người đổ xô đi đải vàng vì dù sao cũng có giá hơn một ngày công hợp tác xã  chỉ có mấy cân lúa tươi. Là linh mục làm việc trong khu vực, lại rất yêu quý văn hóa Chăm, tôi đã xách bị đi thu góp những mảnh vở đất nung, nhưng mảnh gốm rơi vải. Tôi cũng khuyên bà con cố gắng cẩn thận giữ gìn những vật tìm thấy, tôi sẽ mua giá cao nếu còn lành lặn. Nhờ thế mà đến nay, chúng tôi  đã bảo vệ được  một số hiện vật. Còn vàng, do giá trị quá cao, tiền bạc lại không có, tôi chỉ lưu giữ được chút ít. Phần còn lại được dân đem đến các tiệm vàng để “ khò ra” “ phân kim” đúc thành khâu, thành chỉ. Thời gian sau, tin tức đến tai những người săn đồ cổ. Họ mua giá cao. Theo không nổi, tôi đành “đầu hàng”.

Trong số những “ hiện kim” gìn giữ được, tôi quý nhất một đồng tiền mang những dòng chữ A rập tìm được ở thôn Chiêm Sơn cách nhà thờ Trà Kiệu khỏang 3 cây số. Do không tìm gặp chuyên viên, tôi không hiểu về về xuất xứ và ý nghĩa những hàng chữ ghi trên đó. Năm 1993, tôi gặp anh Southworth, một nghiên cứu sinh người Anh ( giờ anh là tiến sĩ rồi ), anh quan tâm đến những đồ sưu tầm mà tôi đã để lại tại Trà Kiệu. Anh tìm đến tôi, lúc đó đã được chuyển về nhà thờ Chính tòa Đà Nẵng từ năm 1990. Tòan bộ đồ sưu tầm “ nặng” , tôi đã để lại Trà Kiệu, tôi chỉ mang theo những món “ nhỏ và qúy”. Một ngày, anh gặp và  yêu cầu tôi cho giáo sư của anh nhìn qua nhưng món đồ nhỏ bé kia. Hôm đó lại là ngày tôi phải rời Đà Nẵng vào Sài Gòn lên đường đi tu nghiệp thần học ở Pháp. Mọi vật sưu tập đều đã được sắp xếp đâu vào đó rồi. Thấy cũng tội, tôi yêu cầu giáo sư phải có mặt trước 7 giờ sáng vì 8 giờ tôi lên máy bay. Đúng hẹn, anh và vị giáo sư khả kính đến, chính là giáo sư tiến sĩ Ian Glover của Đại học Khảo Cổ London. Sau khi xem và chụp hình một số hiện vật, tôi xin giáo sư giải thích giúp tôi về đồng tiến A rập kể trên. Vị giáo sư danh tiếng, từng là thầy dạy của hòang tử Thái Lan , đã khiêm tốn nói mình không chuyên về môn nầy và giáo sư hứa sẽ nhờ các chuyên viên của Bảo tàng Anh Quốc khoa tiền tệ Trung đông giúp đở.

Cúôi năm 1994, tôi nhận được thư của Giáo sư cho biết kết quả tại Paris.

alt

 

Thư  của chuyên viên Bào tàng Anh Quốc.

Qua thư trã lời cho giáo sư. Phân viện tiền đúc và huy chương của British Museum cho biết thông tin về đồng tiền. Đó là một đồng Dinar, cân lượng khỏang một chỉ vàng tốt  triều  đại Abbasid của Vương triều Caliph ( lãnh tụ đạo đời Hồi Giáo ) Al-Muktafi Billah 289-95 AH /902-8 AD tức từ năm 289 đến 295 niên lịch Hồi Giáo , tương đương năm 902 đến 908 Công nguyên. Theo chị Venitia Porter, tên của vị vizier ( lãnh tụ chính trị và tinh thần Hồi Giáo) là Wali al-Dawlah nắm quyền bính giữa những năm 288 và 291 lịch Hồi Giáo. Đồng tiền được đức vào năm 291 lịch Hồi Giáo tại Hamadan, ngày nay thuộc Cộng Hòa Hồi Giáo Iran.

altalt

Hamadan nơi đúc tiền. Nguồn : Internet.

Bảo tàng Anh Quốc cảm thấy rất thích thú vì sự xuất hiện những đồng tiền Hồi Giáo tại vùng đất xa xôi Viển Đông nầy. Rất tiếc là họ không phiên dịch những dòng chữ mặt  trước và sau của đồng tiền. Nhưng hình như là những câu kinh Coran : Nhân danh Thượng đế duy nhất và tiên tri Mahomad của Người, như một bảo chứng cho niềm tin và chữ tín trong công việc thương mãi .

alt

 

 

alt

Đồng tiền vàng Dinar Hamadan – Simhapura.

Bây giờ phải lý giải làm sao sự có mặt của đồng tiền nầy? Phải chăng ngay từ thế kỷ thứ 10 sau Công nguyên, chậm nhất là vào thế kỷ 11, người Hồi Giáo đã trực tiếp buôn bán tại vùng đất Đại Chiêm Hải Khẩu và thành đô Simhapura nầy? Lịch sử cho biết, vào các thế kỷ 12, 13  và sau đó, trước sức tấn công của Đại Việt, người Chăm đã rời bỏ Sư tử thành Trà Kiệu  để vào Viyaya, thiết lập kinh đô mới Đồ Bàn nên chắn chắn việc giao thương khó lòng được tiếp tục.

Với lại với chỉ một đồng tiền chưa đũ chứng cứ để nói về nền ngọai thương của Champa. Trên đồng tiền có đục một lổ nhỏ để đeo hoặc gắn vào một thứ trang sức nào đó như thường thấy trên khăn đội đầu của phụ nữ A rập . Từ đó chỉ có thể suy đóan, đồng tiền trên được xử dụng như món đồ trang sức hơn là trong giao lưu thương mại. Các lái buôn hoặc thủy thủ Chăm khi đi buôn bán ở các nước miền Nam Champa như Malasia, Indonesia …đã mua hoặc được trao tặng những đồng tiền vàng nầy. Họ đem về tặng lại cho vợ con để làm đồ trang sức…để rồi không rõ lý do gì , có thể là chiến tranh hay một biến cố nào đồng tiền đó lưu lạc và tồn tại đến hôm nay như một chứng tích giao lưu giữa Champa và miền đất Iran xa xôi.

Tuy nhỏ bé nhưng đồng dinar trên cũng cho chúng ta một vài tia sáng về quá khứ xa xôi liên hệ đến công việc giao thương giữa miền Viển Đông Á Châu và các nước vùng Vịnh Péc xích.

 

Hội An ngày 31 tháng 8 năm 2010.

Lm Antôn Nguyễn Trường Thăng.

alt

alt

 

http://antontruongthang.wordpress.com/champa/d%e1%bb%93ng-ti%e1%bb%81n-dinar-simhapura/#comment-24

Đồng tiền này có mặt ở lưu vực sông Thu Bồn vào thế kỷ 9-10 có lẽ chủ yếu bằng con đường giao thương buôn bán Đông Tây. Hiện nay ở một số địa điểm ở miền Trung Việt Nam đã tìm thấy những dấu tích liên quan đến tuyến hải thương quốc tế thế kỷ 9-10 như gốm Islam, thủy tinh (trang sức và đồ dùng) Islam…
Lâm Thị Mỹ Dung
 
 
Địa chỉ: Tầng 3-4 Nhà D - 336 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội
Điện thoại: 04. 3 5589477 / Email:baotangnhanhoc@yahoo.com