Home Tin tức - Sự kiện Tin tức - Sự kiện Khai quật di chỉ Ruộng Đồng Cao (Cẩm Phô, Hội An) lần II
Thứ bảy, 30-05-2020   
     
Khai quật di chỉ Ruộng Đồng Cao (Cẩm Phô, Hội An) lần II
Khai quật di chỉ Ruộng Đồng Cao (Cẩm Phô, Hội An) lần II
 
Lâm Thị Mỹ Dung và Hoàng Văn Diệp (Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội)
Nguyễn Anh Thư (Viện Khảo cổ học)
Võ Hồng Việt (TT QL & BT di tích Hội An)
 
Thực hiện Đề tài NCKH “Đồ gốm Chămpa 10 thế kỷ đầu CN từ tiếp cận khảo cổ học xã hội và khảo cổ học kỹ thuật” do Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu Châu Á, Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ, Bảo tàng Nhân học, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội đã tiến hành khai quật địa điểm Ruộng Đồng Cao (RĐC), phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam.
Địa điểm RĐC được phát hiện và khai quật chữa cháy năm 1998. Kết quả đã phát hiện nhiều đồ gốm, gạch, than tro, xương động vật có niên đại khoảng thế kỷ 3 SCN (Trung tâm QL & BT Di tích Hội An 1998). Địa điểm này nằm trong một quần thể gồm nhiều di tích khác nhau từ mộ chum văn hóa Sa Huỳnh đến các di tích cư trú có niên đại từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 9, 10 sau CN.
Trong đợt khai quật này để tìm hiểu diện phân bố cũng như cấu tạo tầng văn hóa của di chỉ, đoàn khai quật đã mở 5 hố đào nhỏ với tổng diện tích 15m2 ở các vị trí và độ cao khác nhau tại khu vực ruộng (xem sơ đồ các hố đào). Tại 4 hố từ 1-4, di vật (những mảnh gốm thô nhỏ vụn) phân bố rất thưa thớt và không có tích tụ tầng văn hóa. Chỉ ở hố 5 mới thấy dấu tích cư trú và sinh hoạt đậm đặc.
5 hố thám sát được mở trên thửa ruộng chưa canh tác của bác Nguyễn Văn Thông và Võ Văn Trọng (thửa ruộng ký hiệu LM 37, LM 38, gần sát mương dẫn nước).
Hố 5 của năm 2009 chỉ cách hố khai quật chữa cháy năm 1998 của Ban QLDT Hội An (trên thửa ruộng nhà ông Nguyễn Văn Đen) khoảng 15-20cm về phía đông.
Kết quả khai quật ở hố đào 5
Hố 5 diện tích 4,5m2 (1,5m x 3m), hướng Đông lệch Bắc 50. Cách hố 1 về phía bắc 1m, cách mốc 0 về phía tây 39,2m. Khi đào ngòi nước người ta đã đào vào phần trên của tầng văn hóa ( tương đương lớp đào 3 và phần trên của lớp đào 4 của hố khai quật).
Màu sắc và độ dày các lớp đào
         L1: từ 0cm – 8cm, lớp đất canh tác màu nâu nhạt, tơi xốp.
         L2: dày 6cm – 9cm, lớp đất cát xám xanh lẫn ít mảnh gốm vụn, đôi chỗ lẫn ít than tro.
          L3: dày 5cm-8cm, cát xám xanh, mềm, mịn, không có hiện vật.
          L4: dày 8cm – 10cm, cát vàng mịn, khá cứng, đôi chỗ lẫn cát nâu vàng do bị felarit hóa.
          L5-6: dày 20cm - 35cm, đất đen, mềm, thuần, lẫn nhiều mảnh gốm to và than tro.
          Sinh thổ là lớp cát mịn lẫn cát bùn màu xanh xám, đôi chỗ có nàu nâu vàng do bị felarit hóa.
Địa tầng
Lớp đất canh tác dày khoảng 20-30 cm (lớp đào 1,2).
Lớp cát màu vàng nghệ (lớp cách giữa lớp đất canh tác và tầng văn hóa) dày khoảng 10-15cm (lớp đào 3).
Tầng văn hóa (lớp đào 4-6): Tích tụ cát feralit màu nâu rỉ sắt chứa những đồ gốm vỡ, ông đầu rau bằng đất nung, gạch vụn, tàn tích thức ăn, than tro…. Tầng văn hóa còn nguyên vẹn, có một số đồ gốm lớn vỡ và nằm in situ. Hiện vật nằm trong lớp văn hóa dày đều khoảng 0,40-0,50m. Không thấy hiện tượng hiện vật phân bố trong một hố có hình lòng chảo như báo cáo của năm 1998.
Không thấy các loại hình di tích liên quan đến sinh hoạt như hố cột, bếp lửa, hố rác bếp…
Di vật gốm trong hố 5
 
Chất liệu
L1
L2
L3
L4
L5
L6
Khu vực bị ngòi nước xâm phạm (lớp đào 1-3)
Tổng
Thô
110
38
80
499
616
171
348
1862
Mịn
41
28
66
369
195
114
213
1026
sành
6
8
2
4
1
 
4
25
Sứ
 
3
6
 
 
 
1
10
Đất nung
4
9
 
35
25
20
20
113
 
 
 
 
 
 
 
 
3036
 
Chất liệu: Gốm thô, hơi thô; gốm mịn, gốm tinh mịn và một số gốm cứng thành sành.
Gốm thô và hơi thô, tỉ lệ cát và bã thực vật cao nên xương thô và thường có màu xám đen. Cá biệt có loại nồi xương đen xốp, áo đen có ánh chỡ. Lớp áo gốm thường bị bong do để lâu ngày dưới đất và cũng do độ nung không cao, nhiều mảnh chỉ còn lại xương gốm thô không khác lắm so với những mảnh gốm thô Sa Huỳnh. Nhiều mảnh thân và đáy nồi và vung có vết cháy xám đen hay dính muội.
Gốm mịn và tinh mịn. Nguyên liệu đất sét sử dụng đã được lọc kỹ, xương gốm có hạt mịn, kết cấu chặt, màu đỏ. Độ nung vừa hay cao.
Loại hình:
Nồi: Nồi thường có chất liệu thô và hơi thô. Dạng chung của nồi là dáng không cao, thân hình cầu, bán cầu hay gãy gấp, đáy tròn hoặc bằng, miệng rộng và loe. Trên vai của một số kiểu nồi có 2 đến 3 gờ nổi tạo thành những dải chạy vòng quanh vai Màu sắc bên ngoài gốm không đồng nhất. Thân nồi thường có những đường văn chải chéo nhau
Bình, vò : Đây là loại hình thường gặp nhất trong các địa điểm từ thế kỷ 3,4 sau công nguyên trở đi, ở giai đoạn sớm hơn như ở Gò Cấm bình vò miệng rộng gốm thô cũng đó được tìm thấy Dáng chung nhất của vò là cổ ngắn, miệng đứng hoặc hơi loe, vai tròn và phình rộng, thân thu nhỏ dần xuống đáy, đáy bằng. Đường kính miệng và đáy gần bằng nhau Hầu hết vò được làm bằng đất sét đã qua lọc rửa, loại hơi thô hay mịn. Vò thường có màu đỏ nhạt, hồng nhạt, vàng nhạt hay xám nhạt. Độ nung vừa phải. Một số mảnh có hoa văn in ô vuông. 1 hoặc 2 đường vạch chìm chạy vòng quanh vai vò Trên một số vai vò có vạch những ký hiệu, những ký hiệu này cũng đã thấy trên gốm kiến trúc, gốm gia dụng và nghi lễ ở Trà Kiệu. Đặc biệt trong nhóm hiện vật RĐC có 01 mảnh vai vò gốm tinh mịn trên có ký hiệu chữ Công (   ).
khaoco.jpg
Mảnh vò gốm có ký hiệu
 
Vung: Phần lớn mảnh thân và núm vung được làm bằng gốm mịn, số gốm hơi thô ít hơn. Thường có màu đỏ gạch non, màu vàng nhạt họăc hồng nhạt. Một số nắp vung có trang trí những đường sóng nước. Nhìn chung vung có kích thước lớn và hầu hết các mảnh vung đều có vết ám khói ở phần rìa trên.
Mâm bồng: 01 chân đế mâm bồng còn khá nguyên vẹn có kích thước lớn chất liệu gốm tinh mịn màu đỏ. Vết bàn xoay còn rất rõ trên vành và than của chân đế này. 
Gốm văn in Hán: Một số mảnh vò gốm nung gần sành văn in ô vuông
Bán sứ: Một vài mảnh bán sứ còn dấu men xanh xám giống gốm men Lục Triều tìm được ở lớp dưới của Luy Lâu.
Vật kê nấu bếp (ông đầu rau): Trong hố khai quật có khá nhiều than tro và những mảnh vỡ của ông đầu rau bằng đất nung, Khác với địa điểm Trà Kiệu, ở Hội An chúng tôi không tìm thấy Cà ràng (một dạng bếp lò bằng đất nung) trong các địa điểm Chăm cổ, Chămpa. 
Hiện vật khác: 01 hạt cườm thủy tinh màu xanh.
Nhiều than tro và mảnh xương của động vật nhỏ (chim) đã được thu thập trong quá trình rây đất.
          Kết quả khai quật lần này giúp xác định một cách chắc chắn đây là di chỉ cư trú trên bãi bồi ven sông, hiện vật đặc biệt là đồ gốm khá đa dạng gồm nhiều loại hình gia dụng, sinh hoạt, nghi lễ… Đồ gốm Ruộng Đồng Cao có nhiều nét tương đồng với đồ gốm của các địa điểm cùng thời ở Hội An như Đồng Nà , Hậu Xá I di chỉ … đặc biệt có những loại hình gốm giống những đồ gốm thuộc tầng văn hóa trên của địa điểm Trà Kiệu (Duy Xuyên). Kết quả khai quật di chỉ Ruộng Đồng Cao cung cấp thêm tư liệu giúp các nhà nghiên cứu lập niên biểu và tìm hiểu diễn biến văn hóa giai đoạn từ thế kỷ 1, 2 đến thế kỷ 4, 5 SCN, tức quá trình diễn biến Lâm Ấp – Chămpa ở lưu vực sông Thu Bồn.
Niên đại của di tích thế kỷ 3, 4 SCN.

 
 
Địa chỉ: Tầng 3-4 Nhà D - 336 Nguyễn Trãi - Thanh Xuân - Hà Nội
Điện thoại: 04. 3 5589477 / Email:baotangnhanhoc@yahoo.com